Bản án 467/2018/DSST ngày 11/10/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 467/2018/DSST NGÀY 11/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 11/ 10 /2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:127/2018/TLST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2018/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1975.(vắng mặt)

Địa chỉ: Đường U, Phường O, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Lý Thị Ngọc B, sinh năm 1974. (vắng mặt)

Địa chỉ: Đường K, Phường L, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/01/2017 tại Văn phòng công chứng Vương Mỹ Hằng, bà Nguyễn Thị U và bà Lý Thị Ngọc B có ký hợp đồng vay tiền số 00383 quyển số 01.TP/CC – SCC/HĐGD. Theo nội dung hợp đồng thì bà U cho bà B vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay 04 tháng, lãi suất do hai bên tự thỏa thuận theo quy định của pháp luật. Khi hết thời hạn của hợp đồng vay tiền thì hai bên chuyển sang ký giấy mượn tiền ngày 18/5/2017, nội dung bà U cho bà B vay 100.000.000 đồng, không ghi thời hạn trả nợ và lãi suất.

Bà B mượn tiền bà U thể hiện tại giấy mượn tiền không ghi ngày mượn với số tiền là 54.000.000 đồng, không ghi lãi suất, thời gian trả là 30 ngày.

Ngày 16/4/2018 bà U đã thông báo yêu cầu bà B thanh toán số tiền 154.000.000 đồng, hạn chót là ngày 31/5/2018. Đã quá thời hạn nhưng bà B vẫn không thanh toán tiền. Nay bà U khởi kiện, yêu cầu bà B thanh toán số tiền vốn là 154.000.000 đồng, tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 01/6/2018 cho đến khi Tòa án xét xử ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn bà Lý Thị Ngọc B vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa nên Tòa án không thu được lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân Quận 8 thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ pháp luật không vi phạm Tố tụng. Yêu cầu của bà B là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét đơn khởi kiện của bà Lý Thị Ngọc B, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn cư trú tại Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo yêu cầu của nguyên đơn.

Tòa án nhân dân Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại điểm e, khoản 1 điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do bà Lý

Thị Ngọc B thay đổi địa chỉ nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện.

Bà Lý Thị Ngọc B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Bà U và bà B ký giấy mượn tiền ngày 18/5/2017 thể hiện việc bà B vay số tiền 100.000.000 đồng, không thời hạn, không lãi suất và số tiền 54.000.000 đồng thể hiện tại giấy mượn tiền không ghi ngày mượn, không lãi suất, thời gian trả là 30 ngày. Việc thỏa thuận vay có hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015. Bà U đã thông báo yêu cầu bà B thanh toán số tiền 154.000.000 đồng hạn chót vào ngày 31/5/2015 nhưng bà B vẫn không trả nên việc bà U yêu cầu bà B thanh toán tiền là có sơ sở theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do bà B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải có trách nhiệm trả lãi theo mức lãi suất 10%/năm tương đương 0.027%/ngày cho bà U theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể từ ngày 01/6/2018 đến ngày 11/10/2018 là 130 ngày, số tiền lãi là 0.027%/ngày x 130 ngày x 154.000.000 đồng = 5.405.400 đồng. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà U buộc bà B phải thanh toán số tiền 159.405.400 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[4] Để đảm bảo quyền lợi của bên được thi hành án cần áp dụng Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 để tính lãi suất trong thời gian chưa thi hành án.

[5] Xét yêu cầu của bị đơn: Do bị đơn không đến Tòa nên Tòa án không thu thập được các lời khai, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng nên xét xử vắng mặt bị đơn.

[6] Theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì yêu cầu của bà U được chấp nhận nên không phải chịu án phí, bà B phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 238, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2009 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị U.

1.1. Buộc bà Lý Thị Ngọc B phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị U số tiền 159.405.400 (một trăm năm mươi chín triệu bốn trăm lẻ năm nghìn bốn trăm) đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện việc trả tiền như bản án đã tuyên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2.Án phí:

2.1 Án phí dân sự sơ thẩm là 7.970.270 (bảy triệu chín trăm bảy chục nghìn hai trăm bảy mươi) đồng, bà Lý Thị Ngọc B chịu, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2.2 Bà U không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.450.000 (bốn triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0014298 ngày 23/2/2018 của Chi cục thi hành án Dân sự Quận 8.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyề n thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 467/2018/DSST ngày 11/10/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:467/2018/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 8 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về