Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUANG NGÃI

BẢN ÁN 46/2020/HNGĐ-ST NGÀY 29/09/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong các ngày 23 và ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 252/2020/TLST-HNGĐ ngày 19/6/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/9/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 09/6/2020, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 18/6/2020, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Th trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh B tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 05/4/2012 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố QNgãi, tỉnh Quảng Ngãi. Vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà mẹ đẻ của anh B tại tổ 19, phường Q, (nay là tổ A, phường Q) thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, khoảng sáu tháng sau khi kết hôn thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị phát hiện chồng ham mê cờ bạc, chị có khuyên nhủ chồng Nều lần nhưng anh B không nghe. Đến khoảng tháng 6 năm 2019 anh B sa đà vào cờ bạc, không lo làm ăn, có Nều khoảng nợ riêng bên ngoài làm chị rất lo lắng, chị cố gắng khuyên nhủ thì anh B gây gỗ, đập phá đồ đạc, nhốt chị trong nhà không cho ra ngoài, chị Th về thăm phía nhà cha mẹ đẻ thì anh B thuê giang hồ đến đòi đánh đập, tạt axít. Khoảng tháng 3/2020 chị bị anh B đánh, chửi mắng xúc phạm và đuổi chị đi khỏi nhà chồng, vì quá sức chịu đựng nên chị Th đã đi vào thành phố Hồ Chí Minh làm ăn sinh sống, vợ chồng cũng ly thân từ đó cho tới nay, sau khi chị bỏ đi anh B không liên lạc, hỏi han, hàn gắn vợ chồng mà bỏ mặc chị, ngày 25/5/2020 anh B đến nhà cha mẹ đẻ của chị ở xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi rây rối, chửi bới, dọa chém cha đẻ của chị cho nên tình cảm vợ chồng giữa chị và anh B đến nay không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị và anh B có hai người con chung là cháu Nguyễn Trung Thành L sinh ngày 08/02/2013 và cháu Nguyễn Ái Bình N sinh ngày 02/01/2015. Trước đây hai vợ chồng cùng chung sống và chăm sóc hai con nhưng từ tháng 3/2020 hai cháu do anh B chăm sóc, chị thường xuyên về thăm, đóng học phí và bồi dưỡng sức khỏe cho các cháu, do hai cháu đều ốm đi và không vui vẻ hạnh phúc như khi có chị chăm sóc. Tại đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung, chị yêu cầu khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, anh B có trách Nệm cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đồng/tháng. Tuy nhiên tại phiên hòa giải ngày 12/8/2020 và tại phiên tòa chị xin thay đổi yêu cầu, cụ thể: Giao cháu L cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu N cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh B và chị không cấp dưỡng nuôi con.Về điều kiện nuôi con thì chị buôn bán quần áo tại chợ Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, thu nhập B quân mỗi tháng là 15.000.000 đồng, làm công nhân cho cơ sở kinh doanh Nguyễn Thị Thu T (địa chỉ: Số 302/22A đường L, phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh) mức lương hiện nay là 9.000.000 đồng/tháng, chị đang thuê nhà ở chung với em gái tại thành phố Hồ Chí Minh, chị có đạo đức tốt, có thu nhập ổn định, thời gian làm việc chủ động, không làm đêm nên có đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Th trình bày chị và anh B không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Th trình bày chị và anh B không có.

* Tại Bản tự khai ngày 11/8/2020, Biên bản làm việc ngày 06/8/2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Nguyễn Thanh B trình bày:

Anh thống nhất với phần trình bày của chị Th về việc tìm hiểu, kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung.

Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng anh sau khi kết hôn, sinh con có phát sinh những bất đồng, mâu thuẫn nhỏ nhưng vợ chồng đều bỏ qua, đến khoảng tháng 02 (âm lịch) tức tháng 3/2020 (dương lịch) chị Th lơ đãng việc nhà bỏ bê chồng con, anh B rầy la khuyên nhủ thì vợ không nghe, cãi lại nên anh B có đánh vợ (tát vào mặt) một cái, chị Th lấy cớ bị chồng đánh nên bỏ nhà chồng đi, từ đó đến nay không quay về để chung sống với chồng, chăm sóc con mà đòi ly hôn và giành nuôi con. Trong thời gian chị Th bỏ đi, anh lo làm ăn nên không liên lạc hàn gắn, động viên vợ về, anh có đến nhà vợ ngày 25/5/2020 nhưng không gây ra hậu quả gì. Anh nhận thấy vợ chồng có mâu thuẫn, anh có nóng nảy đánh vợ nhưng chưa đến mức trầm trọng vì vậy anh không đồng ý ly hôn với chị Th.

Về con chung: Do anh không đồng ý ly hôn nên anh muốn chị Th quay về cùng anh chăm sóc hai con chung, chị Th không phải là người vợ, người mẹ hoàn hảo nhưng vẫn biết lo cho chồng, cho con. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th thì anh đề nghị Tòa án giao hai con chung là cháu L và cháu N cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị Thành cấp dưỡng nuôi con. Anh hiện đang làm nhân viên cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại và xây dựng L (địa chỉ: Số 87/3 đường N, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi) mức lương chính 9.500.000 đồng/tháng, anh đang ở nhà mẹ ruột nên anh thường nhờ mẹ ruột (bà nội các cháu) giúp anh trông nom, chăm sóc các con, anh có đạo đức tốt nên anh có đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung: Anh và chị Th không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh và chị Th không có.

*Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự về xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thẩm quyền, thời hạn chuẩn bị xét xử, xác minh thu thập chứng cứ, thời hạn tống đạt các văn bản tố tụng, gởi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, trình tự, thủ tục phiên tòa; nguyên đơn, bị đơn tuân theo đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Thanh B, giao cháu cháu Nguyễn Trung Thành L sinh ngày 08/02/2013 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Ái Bình N sinh ngày 02/01/2015 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh B và chị Th không cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không có, chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thanh B tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Quảng Ngãi vào ngày 05/4/2012 nên đây quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng có chung sống tại nhà mẹ đẻ của anh B tại phường Q, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi. Tại Biên bản xác minh ngày 24/6/2020, ông Nguyễn Văn C tổ trưởng tổ A, phường Q cho biết: “Trong quá trình chung sống ông B, bà Th không báo cáo chính quyền địa phương về nguyên nhân mâu thuẫn, địa phương không nắm được vấn đề mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của ông B, bà Th”. Tại Giấy xác nhận do chị Nguyễn Thị Th lập ngày 18/6/2020 được Công an xã N, huyện T xác nhận nội dung “Vào ngày 25 tháng 5 anh B có lên nhà ba đẻ tôi để gây rối, chửi bới xúc phạm gia đình tôi, cầm mã tấu dọa chém ba tôi, sau đó anh B còn gọi điện giang hồ lên nhà ba tôi hăm dọa”. Qua lời trình bày của hai bên đương sự, xác nhận của chính quyền địa phương, cho thấy trong thời kỳ hôn nhân, chị Th và anh B có phát sinh mâu thuẫn, khoảng tháng 3/2020 vợ chồng có xảy ra cải vã bất đồng, anh B có đánh chị Th và chị Th bỏ đi, sau khi chị Th đi ngày 25/5/2020 anh B có đến nhà cha đẻ của chị Th gây sự. Anh B trình bày không đồng ý ly hôn với vợ, muốn vợ quay về chung sống nhưng trong quá trình chung sống, khi vợ chồng bất đồng quan điểm, anh không cùng vợ bình tĩnh hòa giải các bất đồng, mâu thuẫn mà la rầy, đánh vợ nên đã làm chị Th bức xúc bỏ đi. Khi chị đi, anh B cũng không cùng gia đình hai bên khuyên nhủ, tác động chị Th về sum họp gia đình mà anh lại đến nhà cha đẻ chị Th gây sự, anh cũng không chủ động liên lạc để hàn gắn, thuyết phục vợ về. Vợ chồng bỏ mặc không quan tâm nhau, phần ai nấy sống, thực tế đã ly thân từ tháng 3/2020 đến nay cho thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Th đối với anh Nguyễn Thanh B.

[2.] Xét về con chung: Chị Th và anh B có hai người con chung là cháu Nguyễn Trung Thành L sinh ngày 08/02/2013 và cháu Nguyễn Ái Bình N sinh ngày 02/01/2015, hai cháu hiện nay đang ở với anh B. Chị Th có yêu cầu giao cháu L cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu N cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh B và chị Th không cấp dưỡng nuôi con. Anh B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và cháu N, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con. Tại Biên bản ghi ý kiến ngày 06/8/2020 tại tổ A, phường Q, thành phố QNg cháu Nguyễn Trung Thành L thể hiện nguyện vọng khi cha mẹ ly hôn thì cháu muốn ở với bố của cháu là anh Nguyễn Thanh B, cháu L ký biên bản và có chữ ký xác nhận của anh Nguyễn Thanh B, tổ trưởng tổ A, phường Q, cán bộ tư pháp phường Q và lãnh đạo phường Q, thành phố Quảng Ngãi là phù hợp với nguyện vọng của anh B và chị Th, cháu L là con trai hiện ở với anh B, anh B có việc làm có thu nhập để nuôi cháu nên giao cháu L cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Anh B thừa nhận chị Th là một người mẹ biết lo cho con, thương yêu con nên đối với cháu N, cháu là con gái và còn nhỏ (mới hơn 05 tuổi), khi cháu N ngày càng lớn, cháu sẽ rất cần sự chăm sóc, gần gủi và hướng dẫn trực tiếp của người mẹ, còn chị Th cũng cần có con để an ủi, sẻ chia và làm động lực cố gắng trong cuộc sống. Với thu nhập hàng tháng, điều kiện nuôi con mà anh B và chị Th chứng minh tại Tòa thì việc giao cho mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng một con chung là phù hợp để người cha, mẹ có đủ điều kiện về kinh tế, thời gian, sức khỏe ... để nuôi dạy con cho tốt. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th giao cháu L cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu N cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh B và chị Th không cấp dưỡng nuôi con. Anh B và chị Th quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai cản trở.

[3] Về tài sản chung: Chị Th và anh B thống nhất khai chị Th và anh B không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Chị Th và anh B thống nhất khai chị Th và anh B không có. [5] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận;

[6] Về án phí: Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 144, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

2. Chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Thanh B.

3. Giao cháu Nguyễn Trung Thành L, sinh ngày 08/02/2013 cho anh Nguyễn Thanh B trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Ái Bình N, sinh ngày 02/01/2015 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Th và anh B không cấp dưỡng nuôi con. Chị Th, anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng chị Th đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số AA/2018/0004546 ngày 19/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:46/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Quảng Ngãi - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về