Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 27/01/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 27/01/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 27 tháng 01 năm 2021. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái nguyên. Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 170/2020/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2020 về việc "Ly hôn,tranh chấp về nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXX - HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1994. HKTT: Xóm LN, xã BT, huyện Đ, Thái Nguyên.

Nơi ở hiện nay: Xóm VL, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Ma Thái B, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Xóm LN, xã BT, huyện Đ, Thái Nguyên. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình tố tụng giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Ma Thái B kết hôn ngày 17/3/2015 đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi kết hôn, chị và anh B có tìm hiểu nhau khoảng bốn đến năm tháng, được sự đồng ý của hai gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.

Sau khi kết hôn chị về ở chung với gia đình anh B tại xã BT, huyện Đ. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng mâu thuẫn bắt đầu sảy ra từ khi anh B đi lái xe chuyển chở gỗ từ năm 2016, thời gian đi làm thất thường, có lần anh B đi làm xa nhà khoảng một đến hai tuần có lần một tháng mới về nhà, khi về anh B không quan tâm đến gia đình, vợ con còn đi uống rượu nhà bạn bè đến khuya mới về dẫn đến vợ chồng chị cãi cọ, xô xát nhau. Đến tháng 8 năm 2020, chị H phát hiện anh B có sử dụng chất ma túy, chị đã nhiều lần động viên anh B đi cai nghiệm để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con chung, nhưng anh B không thay đổi. Đến tháng 9 năm 2020 chị vẫn bắt gặp anh B sử dụng ma túy nên chị và con về nhà bố mẹ đẻ của chị tại xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên sinh sống và sống ly thân từ đó đến nay. Từ khi chị về nhà bố mẹ đẻ ở anh B cũng không đến nói chuyện hay đón chị về mà anh B có đến đón chị cũng cương quyết không về. Nay chị không còn tình cảm với anh B nữa, chị xin được ly hôn anh B.

- Về con chung: Chị xác định có 01 con chung là Ma Khánh Phúc, sinh ngày 02/8/2016. Hiện cháu Phúc đang ở với chị và cháu đang học lớp 4 -5 tuổi tại trường mầm non TL, nơi chị H làm việc. Khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Vì chị H có thu nhập và có nơi ở ổn định. Anh B xin được nuôi con chung chị không đồng ý.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị đơn anh Ma Thái B trình bày:

Về thời gian tìm hiểu nhau, thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống anh B đồng ý với ý kiến như chị H đã trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn anh cho là từ những điều nhỏ nhặt trong gia đình. Anh là lái xe chuyên chờ gỗ thường xuyên vắng nhà từ một đến hai tuần mới về qua nhà. Chị H ở nhà không quan tâm đến gia đình nhà chồng. Đến cuối năm 2019 anh B phát hiện chị H có nhắn tin tình cảm với người đàn ông khác, anh có hỏi thì chị H thừa nhận. Anh đã bỏ qua để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con chung, nhưng chị H vẫn không thay đổi dẫn đến vợ chồng anh chị thường xuyên to tiếng, cãi cọ nhau. Đến khoảng cuối tháng 8 năm 2020 chị H đưa con bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị H tại xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên sinh sống. Anh, chị sống ly thân từ đó đến nay. Anh đã nhiều lần gọi điện và hai bên gia đình có nói chuyện để chị H về nhưng chị H nhất quyết không về. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn chị H xin ly hôn anh đồng ý.

- Về con chung: Anh xác định có 01 con chung là Ma Khánh Phúc, sinh ngày 02/8/2016 hiện đang chung sống cùng chị H tại xã TL. Khi ly hôn anh B xin được nuôi con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Hiện anh là lao động tự do đang lái xe thuê, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng /tháng. Nếu anh được nuôi con anh sẽ nghỉ việc để về nhà chăm sóc con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định không có tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị H cương quyết xin ly hôn. Yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ xác định: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuấn theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Ma Thái B; Về con chung: Giao cháu Ma Khánh Phúc, sinh ngày 02/8/2016 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi, lao động tự túc được. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Ma Thái B; Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh B không có tài sản chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định của pháp luật, tiến hòa giải vợ chồng về đoàn tụ và về con chung nhưng không thành. Vì vậy vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:

- Về tố tụng: Đây là vụ án về ly hôn và tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ B biện pháp lấy lời khai của các bên đương sự nên việc xét xử có sự tham gia của Kiểm sát viên theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Ma Thái B kết hôn trên cơ sở tự nguyên, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H và ý kiến của anh B nhận thấy: Quá trình chung sống, giữa chị H và anh B đều đưa ra nhiều lý do nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn: chị H cho rằng anh B sử dụng ma túy còn anh B cho rằng chị H có tình cảm với người đàn ông khác dẫn đến nảy sinh nhiều mâu thuẫn; thường xuyên xảy ra cãi cọ, xúc phạm lẫn nhau. Thực tế cho thấy chị H và anh B đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa, dẫn đến việc chị H ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị H xin ly hôn và được anh B đồng ý. Do vậy, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyện Thị H và anh Ma Thái B.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Ma Thái B có 01 con chung là Ma Khánh Phúc, sinh ngày 02/8/2016.

Quá trình giải quyết tại Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị H và anh B đều xin được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Nguyễn Thị H hiện đang là nhân viên trường mầm non TL, có thu nhập và nơi ở ổn định. Anh Ma Thái B hiện đang ở cùng bố mẹ đẻ tại xã BT, huyện Đ, anh là lái xe hay phải đi làm xa nhà. Ngoài ra, con anh chị còn nhỏ cần có sự chăm sóc, giáo dục của người phụ nữ, đặc biệt là của người mẹ sẽ thuận lợi hơn. Do vậy, cần giao con chung là cháu Ma Khánh Phúc chị cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H, anh B xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; 147; 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Ma Thái B.

2. Về con chung: Giao cháu Ma Khánh Phúc, sinh ngày 02/8/2016 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) lao động tự túc được.

Anh Ma Thái B có quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở.

 Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh B do chị H tự nguyện không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Ma Thái B xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

4.Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sũng quỹ Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005196 ngày 23 tháng 11 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 27/01/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Định Hóa - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về