Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 09/06/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 46/2020/HNGĐ-ST NGÀY 09/06/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 09 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2020/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Y, sinh năm 1968(năm sinh khác 1966). Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960. Vắng mặt.

Cùng cư trú tại: Ấp 1, xã h, huyện b, tỉnh Vĩnh Long. 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 02 năm 2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Võ Thị Y trình bày:

- Về hôn nhân: Trên cơ sở mai mối, được sự đồng ý của gia đình, bà và ông Nguyễn Văn T tổ chức lễ cưới năm 1989 và đăng ký kết hôn vào ngày 31/8/1996 tại Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 14 năm, đến năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải dẫn đến mất hạnh phúc. Mặc dù, mâu thuẫn đã được vợ chồng cố gắn điều hòa vun đắp tình cảm trong thời gian dài nhưng không đạt kết quả. Nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay không trở về đoàn tụ. Sau thời gian sống ly thân, nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Bà và ông T có với nhau 02 người con chung tên Nguyễn Phi H, sinh ngày 19/3/1991 và Nguyễn Thị Huyền A, sinh ngày 22/12/1992 đều đã thành niên và lập gia đình riêng. Nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Để bà và ông T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Không có, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình gi i quy t v án và tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đều vắng mặt tại các phiên họp, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Y và không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tam Bình quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn T đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần hai vắng mặt không có lý do vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông T theo thủ tục chung.

[3] Về hôn nhân: Bà Võ Thị Y và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng hợp pháp, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét trong quá trình chung sống, xuất phát từ việc bất đồng quan điểm trong cuộc sống kéo dài, không điều hòa được làm cho vợ chồng thường xuyên cự cải dẫn đến mất hạnh phúc. Bà Y, ông T có thời gian sống ly thân từ năm 2016 đến nay không trở về đoàn tụ. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T không có văn bản trình bày ý kiến hoặc đề nghị giải quyết đối với yêu cầu ly hôn của bà Y. Căn cứ vào lời trình bày của bà Y và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết luận đời sống chung giữa bà Y và ông T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết cho ly hôn giữa bà Y và ông T.

[4] Về con chung: Bà Y và ông T có với nhau 02 người con chung tên Nguyễn Phi H, sinh ngày 19/3/1991 và Nguyễn Thị Huyền A, sinh ngày 22/12/1992. Xét anh H và chị A đều đã thành niên và lập gia đình riêng, bà Yến, ông T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Do không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án, Tòa án giải quyết bà Y phải chịu án phí giải quyết ly hôn số tiền 300.000 đồng và được khấu trừ vào trong số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Thị Y và ông Nguyễn Văn T.

2. Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:

Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Võ Thị Y phải nộp án phí ly hôn số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ xong vào trong số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số No 0012437 ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Vụ án được xét xử công khai. Có mặt bà Võ Thị Y, vắng mặt ông Nguyễn Văn T. Báo cho bà Y có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Riêng ông T vắng mặt thì thời hạn trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 09/06/2020 về ly hôn

Số hiệu:46/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Bình - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về