Bản án 46/2019/DS-ST ngày 19/07/2019 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 46/2019/DS-ST NGÀY 19/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

Trong ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Hồ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2019/TLST-DS, ngày 12 tháng 3 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXX-ST ngày 06/6/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1/ anh Trần Chí H, sinh năm 1985

Địa chỉ: ấp An Phú, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

2/ chị Trịnh Thanh Th, sinh năm 1985

ĐKTT: Số khóm 5, thị trấn Long Hồ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Nơi ở hiện nay: ấp An Phú, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1981

Địa chỉ: ấp Phước Hiệp, xã Lộc Hòa, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Người làm chứng:

1/ ông Trần Văn D, sinh năm 1957

Địa chỉ: ấp An Phú, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

2/ anh Trần Trí Th, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp An Phú, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án anh Trần Chí H và Trịnh Thanh Th trình bày:

Ngày 17/9/2018 anh V có giao lại tôi làm công việc là sơn nhà cho bà Duyên với số tiền là 11.000.000 đồng. Sau khi thực hiện xong công việc đã giao Anh V đã trả cho tôi được số tiền là 5.000.000 đồng còn nợ lại 6.000.000 đồng anh V không trả. Tôi đã thưa ra Ủy ban nhân dân ấp Phước Hiệp, xã Lộc Hòa, huyện Long Hồ nơi cư trú của anh V. Chính quyền địa phương có mời anh V 03 lần nhưng anh V không đến, chính quyền địa phương có lập biên bản và tôi đã nộp cho Tòa án. Ông trưởng ấp Phước Hiệp là Dương Văn Minh, ông Minh cũng biết việc này và đã làm xác nhận cho tôi là ông V còn nợ tôi số tiền 6.000.000đồng.

Chị Th thống nhất lời trình bày của anh H.

Tại bản xác nhận của chính quyền ấp Phước Lợi có nội dung như sau: Chúng tôi đi xác minh đơn thưa để ra hòa giải ấp, có gặp ông Nguyễn Thanh V là bị đơn, ông cho biết có mướn ông Trần Chí H sơn, bê một căn nhà ở xã Long Phước với giá là 11.000.000đồng, ông trả trước 5.000.000đồng còn lại là 6.000.000đồng ông còn thiếu lại chưa trả là đúng.

Ý kiến của nguyên đơn tại tòa ông H trình bày: Tôi giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đòi ông V trả tôi số tiền là 6.000.000đồng, tiền ông V thuê tôi thực hiện công việc sơn, bê nhà bà Duyên, do ông V lãnh thầu sửa chữa. Tôi không còn yêu cầu khác.

Chị Th thống nhất lời trình bày của anh H.

Ý kiến của người làm chứng tại tòa:

Ông D trình bày: Tôi là người cùng thực hiện công việc sơn, bê nhà bà Duyên với anh H. Tôi biết được việc anh V giao việc cho anh H làm là đúng. Anh V chưa trả hết tiền công cho anh H.

Anh Th trình bày: Tôi có đi làm sơn, bê với anh H tại nhà bà Duyên. Qua nhiều lần nói chuyện với anh V tôi biết được anh V còn thiếu anh H 6.000.000đồng tiền công.

* Trình bày, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 278, Điều 280 Điều 401, Điều 410 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm ,thu ,nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án. Buộc anh Nguyễn Thanh V trả cho anh Trần Chí H và anh Trịnh Thanh Th số tiền 6.000.000đồng.

Về án phí: Buộc anh Nguyễn Thanh V nộp 300.000đồng tiền án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đây là tranh chấp hợp đồng dịch vụ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Thanh V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thanh V.

[2] Về nội dung:

Tuy không có văn bản nhận công việc giao khoáng giữa ông V và ông H, nhưng qua lời trình bày của đương sự và người làm chứng cho thấy giữa anh H, chị Th và anh V có giao dịch thực hiện công việc có trả tiền. Tuy đến nay anh H không có tài liệu chứng minh việc anh V còn nợ anh số tiền 6.000.000đồng. Nhưng qua lời trình bày của những người làm chứng tại tòa. Đặc biệt là nội dung xác nhận của chính quyền địa phương nơi anh V cư trú, có căn cứ để Hội đồng xét xử xác định anh V còn nợ anh H và chị Th 6.000.000(sáu triệu) đồng tiền anh H đã nhận công việc sơn, bê theo yêu cầu của anh V. Do đó việc khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 351; 357; 468 ;513 ;514 ; 515 và Điều 519 Bộ luật dân sự;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Nguyễn Thanh V phải có nghĩa vụ trả cho anh Trần Chí H và chị Trịnh Thanh Th số tiền 6.000.000(sáu triệu)đồng.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu ,nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án. Buộc anh Nguyễn Thanh V nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Trần Chí H và chị Trịnh Thanh Th số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo lai thu số 0002212 ngày 12/3/2019 của Chị cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên thì phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa th thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai nguyên đơn có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú./.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/DS-ST ngày 19/07/2019 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

Số hiệu:46/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Hồ - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về