Bản án 434/2019/HS-ST ngày 23/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 434/2019/HS-ST NGÀY 23/09/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 407/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 428/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2019 đối với các bị cáo:

Lê Hồng T (tên gọi khác T), sinh năm 1991 tại tỉnh Đ. Nơi cư trú: K4/047 khu phố 3, phường B, thành phố B, tỉnh Đi. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T, sinh năm 1973 và bà Phan Thị Hồng Đ, sinh năm 1973; Vợ Lê Thị Tr, sinh năm 1991, ly hôn năm 2013, có 01 con sinh năm 2012. Hiện đang sống chung như vợ chồng với Huỳnh Thị Lan A, sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/5/2019, đến ngày 16/5/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ cho tại ngoại điều tra (Có mặt).

Huỳnh Thị Lan A, sinh năm 1997 tại tỉnh T. HKTT: Ấp T, xã X, huyện Ch, tỉnh T. Nơi cư trú: K4/047 khu phố 3, phường B, thành phố B, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị Th, sinh năm 1978; chung sống như vợ chồng với Lê Hồng T, sinh năm 1991, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/5/2019, đến ngày 16/5/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giữ cho tại ngoại điều tra (Có mặt).

Người làm chứng: Anh Bùi Minh L, sinh năm: 1998. Địa chỉ: 44/9 Khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 05/5/2019 Lê Hồng T và Huỳnh Thị Lan A đến thuê phòng số 3, nhà nghỉ “Ngọc Thuận” thuộc tổ 20B khu phố Cầu Hang, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa để nghỉ. Tại nhà nghỉ “Ngọc Thuận”, T và Lan bàn bạc dùng số tiền 1.500.000 đồng của cả hai người đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày T đi đến khu vực gần nhà nghỉ “Hoa Trang” thuộc phường Tân Vạn, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mua 01 gói ma túy tổng hợp với giá 1.500.000 đồng của người thanh niên tên Út (không rõ lai lịch, địa chỉ). Sau đó, T mang số ma túy mua được về phòng phòng số 3, nhà nghỉ “Ngọc Thuận” cùng Lan A lấy một phần sử dụng, phần còn lại T chia thành 08 gói nhỏ đưa cho Lan A cất giấu để sử dụng dần.

Đến khoảng 08 giờ ngày 07/5/2019 T và Lan đang cất dấu 08 gói ma túy trong gối đôi tại phòng số 3, nhà nghỉ “Ngọc Thuận” thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Biên Hòa kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm 08 gói ny lon hàn kín chứa tinh thể màu trắng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 392/PC09-GĐMT ngày 15/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,0009gam, loại Methamphetamine (bút lục: 05-07) Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Hồng T và Huỳnh Thị Lan A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ti bản cáo trạng số 407/CT/VKSBH ngày 14 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố các bị cáo Lê Hồng T và Huỳnh Thị Lan A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Ti phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Biên Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Lê Hồng T và Huỳnh Thị Lan A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, Xử phạt bị cáo T và bị cáo A mổi bị cáo 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng đề nghị Tòa án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Đi với đối tượng tên Út là người bán ma túy cho Lê Hồng T, do không biết tên thật, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa các bị cáo Lê Hồng T và Huỳnh Thị Lan A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 08 giờ ngày 07/5/2019 tại phòng số 3, nhà nghỉ “Ngọc Thuận” thuộc tổ 20B khu phố Cầu Hang, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Biên Hòa kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lê Hồng T và Huỳnh Thị Lan A đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,0009 gam ma túy, loại: Methamphetamine.

Hành vi nêu trên của Lê Hồng T và Huỳnh Thị Lan A là nguy hiểm cho xã hội và đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2.2] Xét tính chất, vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Trong đó bị cáo T là người trực tiếp đi mua ma túy và phân nhỏ ra nên có vai trò cao hơn bị cáo A.

[2.3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, nên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[3] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong chứa ma túy sau giám định vụ số: 392/PC09-GĐMT ngày 15/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

[4] Về án phí: Buộc mổi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố đối với các bị cáo của đại diện VKSND thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Lê Hồng T và bị cáo Huỳnh Thị Lan A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Hồng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành hình phạt tù, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ trước đó (từ ngày 07/5/2019 đến ngày 16/5/2019).

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Lan A 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành hình phạt tù, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ trước đó (từ ngày 07/5/2019 đến ngày 16/5/2019).

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 điều 106 Bộ tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong 01 gói có đóng dấu niêm phong vụ số: 392/PC09-GĐMT ngày 15/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai (Vật chứng hiện đang ở Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 22/8/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

[3] Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Hồng T và bị cáo Huỳnh Thị Lan A mổi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 434/2019/HS-ST ngày 23/09/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:434/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về