Bản án 43/2019/HNGĐ-ST ngày 03/05/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.MỸ THO-TIỀN GIANG 

BẢN ÁN 43/2019/HNGĐ-ST NGÀY 03/05/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 03 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp: “Xin ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mộng H, sinh năm 1997 (có mặt) Địa chỉ: 156 ấp L, xã Đ, TP.M, tỉnh Tiền Giang

* Bị đơn: Nguyễn Quốc C, sinh năm 1995 (có mặt)

Địa chỉ: 43/12 khu phố T, phường 10, TP.M, Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mộng H trình bày: Chị và anh C kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho.

Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C chơi bời gây ra nợ nần, không quan tâm chăm sóc vợ con. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh C.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh năm 2016 và Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 2018, chị yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Quốc C thống nhất như phần trình bày của chị H về hôn nhân và con chung. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chơi bời nên bỏbê vợ con, vợ chồng anh có xảy ra cự cãi, anh có hăm dọa chị H. Nay anh khôngđồng ý ly hôn với chị H vì anh còn thương vợ, thương con.

Về con chung: Trường hợp Tòa án cho ly hôn, anh yêu cầu được nuôi cháu K, giao cháu L cho chị H nuôi dưỡng, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi cháu K, anh không cấp dưỡng nuôi cháu L.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu: Từ khi thụ lý vụ kiện và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều đã thực hiện đúng qui định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng qui định Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Giao 02 con cho chị H nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ á n được thẩm tra tạiphiên tòa, Hội đồng xét xử  nhận định:

[1] Về nội dung: chị Hiền yêu cầu được ly hôn với anh Cường.

Xét thấy, chị H và anh Cg xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, thành phố M.

Theo chị H trình bày, vào năm 2018 thì chị và anh C phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C chơi bời gây ra nợ nần, không quan tâm chăm sóc vợ con. Nay chị cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh C.

Phía anh C thừa nhận anh có chơi bời (đá gà, chơi game và sử dụng ma túy) nên bỏ bê vợ con, vợ chồng có xảy ra cự cãi, anh có hăm dọa chị H. Nay anh không đồng ý ly hôn nhưng anh không đưa ra biện pháp gì để hàn gắn.

Xét thấy, vào năm 2018 chị H và anh C xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C ham chơi, không quan tâm vợ con, mặc dù anh C và chị H đã có hai con, khi xảy ra cự cải anh C có lời hăm dọa chị H. Vào năm 2018 chị H phải bồng hai con đi để lánh mặt anh C để tránh xảy ra mâu thuẫn, sau đó anh C có gặp chị H để hàn gắn lại hạnh phúc nhưng không có kết quả. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh C đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh C là có căn cứ, phù hợp với qui định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: chị H và anh C có 02 con chung là cháu K và cháu L. Xét thấy, cháu K vừa hơn 03 tuổi, còn cháu L chưa được 01 tuổi và hiện nay hai cháu đang sống với chị H. Do đó để ổn định cho cuộc sống của hai cháu nên cần giao hai cháu cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: hai bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Về án phí: chị H phải chịu án phí theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

 Xử : 1/ Về hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị Mộng H được ly hôn với  anh Nguyễn Quốc C.

2/ Về con chung: giao cháu Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/02/2016 và cháu Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 16/9/2018 cho chị H nuôi dưỡng.

Anh C có quyền tới lui thăm con, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3/ Về tài sản chung: không có, không yêu cầu.

4/ Về nợ chung: không có, không yêu cầu.

5/ Về án phí: chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013897 ngày 11/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên xem như đã nộp xong.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


81
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2019/HNGĐ-ST ngày 03/05/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:43/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về