Bản án 43/2018/DS-ST ngày 18/09/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 43/2018/DS-ST NGÀY 18/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 18 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 222/2018/TLST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2018/QĐXXST-DS ngày 16/8/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: VPBFC, địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà R, số 9 Đ, phường 12, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm: 1992, địa chỉ: Lô N1.1-09, Khu đô thị A, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền số 4103/UQTA- VH.18 ngày 08-6-2018), vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Đỗ Thị Tú S, sinh năm: 1992, địa chỉ: Tổ 3, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo Đơn khởi kiện ngày 16-4-2018, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn VPBFC (do chị Nguyễn Thị Mỹ C đại diện) trình bày: Vào ngày 12/9/2015, chị Đỗ Thị Tú S có vay của VPBFC số tiền 60.890.820 đồng với lãi suất thỏa thuận là 4,59%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo nội dung hợp đồng, chị S có nghĩa vụ thanh toán cho VPBFC gốc và lãi với phương thức trả chậm trong thời gian 29 tháng, trong đó, 28 tháng đầu tiên, mỗi tháng trả 3.840.000 đồng và tháng cuối cùng trả 3.832.000 đồng.

Thực hiện hợp đồng, chị S đã nhận đủ số tiền vay nêu trên để tiêu dùng và thanh toán cho VPBFC với tổng số tiền là 38.497.000 đồng. Kể từ lần thanh toán cuối cùng (ngày 19/6/2017) cho đến nay, chị S không thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào dù VPBFC đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ngày 14-8-2018, chị S thanh toán thêm 2.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà chị S đã thanh toán cho VPBFC (cả gốc và lãi) là 40.497.000 đồng. Chị S còn nợ lại VPBFC số tiền 70.819.000 đồng (cả nợ gốc: 41.352.114 đồng và nợ lãi: 29.466.886 đồng).

Do đó, VPBFC yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị S phải trả cho VPBFC số tiền 70.819.000 đồng. VPBFC không yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử và lãi phát sinh đến khi thanh toán xong khoản vay.

* Bị đơn là chị Đỗ Thị Tú S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Đỗ Thị Tú S đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho chị Đỗ Thị Tú S: Thông báo thụ lý vụ án về việc VPBFC khởi kiện; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác nhưng trong thời hạn luật định, chị S không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án, chị S không đến Tòa án để làm việc, hòa giải, không đến phiên tòa để trình bày; không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[2.2] Theo trình bày và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho thấy, chị S có vay của VPBFC số tiền 60.890.820 đồng với lãi suất 4,59%/tháng, phương thức thanh toán theo kỳ. Quá trình vay, chị S đã thanh toán cho VPBFC được 38.497.000 đồng. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ngày 14-8-2018, chị S thanh toán thêm được 2.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà chị S đã thanh toán cho VPBFC (cả gốc và lãi) là 40.497.000 đồng. Chị S còn nợ lại VPBFC số tiền 70.819.000 đồng (bao gồm nợ gốc: 41.352.114 đồng và tiền lãi: 29.466.886 đồng).

[2.3] Mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng; các Điều 1, 2 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

[2.4] Việc chị S không tiếp tục thanh toán nợ cho VPBFC là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. VPBFC khởi kiện yêu cầu chị S phải thanh toán số tiền là 70.855.000 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. VPBFC không yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử và lãi phát sinh đến khi thanh toán xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện củaVPBFC nên chị S phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm (5% của số tiền 70.819.000 đồng) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho VPBFC.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 91, 144, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 357, 463, 466, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

1. Buộc chị Đỗ Thị Tú S có nghĩa vụ thanh toán cho VPBFC số tiền là 70.819.000 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm mười chín nghìn đồng).

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án dân sự cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án dân sự còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Chị Đỗ Thị Tú S phải chịu 3.540.950 đồng (Ba triệu năm trăm bốn mươi nghìn chín trăm năm mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho VPBFC tiền tạm ứng án phí 1.820.475.000đ (Một triệu tám trăm hai mươi nghìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0003343 ngày 05/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

162
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2018/DS-ST ngày 18/09/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:43/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Quảng Ngãi - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về