Bản án 42/2020/HS-ST ngày 21/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM

BẢN ÁN 42/2020/HS-ST NGÀY 21/09/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 21-9-2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2020/TLST-HS ngày 21-7-2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2020/QĐXXST-HS, ngày 10-8-2020, đối với bị cáo:

Đỗ .TA, S năm 1993, tại Gia Lai; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 1, phường TL, tHnh phố P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Tr và bà Ngô Thị K; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26-3-2020 đến ngày 07-5-2020 và được tại ngoại cho đến nay. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Đỗ Tr, S năm 1963; địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum. (Có mặt).

+ Bà Ngô Thị K, S năm 1969; địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum. (Có mặt).

+ Ông Trần Hữu H, S năm 1965; địa chỉ: Thôn A , xã A , huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

- Những người làm chứng:

+ A Nguyễn ThA T, S năm 1996; địa chỉ: Trần Phú, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. (Có mặt).

+ A Nguyễn ThA Th, S năm 1980; địa chỉ: Trần Phú, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt).

+ A Bùi Quang H, S năm 1996; địa chỉ: Trần Phú, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. (Có mặt).

- Người chứng kiến: A H Văn S, S năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố t, thị trấn P, huyện Ni, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 26-3-2020, Tổ Công tác Công an huyện Ngọc Hồi phát hiện 02 đối tượng điều khiển 02 xe mô tô dừng tại ngã ba đường Nguyễn Huệ và đường bê tông đi thôn Đ, xã Đ, huyện N có biểu hiện nghi vấn nên tiến Hnh kiểm tra. Thấy lực lượng chức năng, 01 đối tượng điều khiển xe mô tô bỏ chạy, người còn lại bị bắt giữ là Đỗ .TA. Qua kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay trái của A có 01 gói nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá), nên Công an huyện Ngọc Hồi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Đỗ .TA khai nhận: Vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 26-3-2020, sau khi uống rượu với người khác, bị cáo có nhu cầu sử dụng ma túy nên gọi điện thoại cho một người đàn ông tên Q hỏi mua 500.000đồng ma túy. Q nói A đi vào ngã ba Đắk Xú đợi. Sau khi nghe điện thoại xong, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81K4-8499 đi vào ngã ba đường Nguyễn Huệ và đường Hùng Vương thuộc xã Đắk Xú, huyện Ngọc Hồi đứng đợi được khoảng 1-2 phút thì thấy Q điều khiển xe mô tô đến. Q dẫn A đi theo đường Nguyễn Huệ hướng ra thị trấn Plei Kần. Khi đi đến ngã ba đường Nguyễn Huệ và đường Trần Hưng Đạo, thị trấn Pthì Q bảo A đứng đợi rồi tiếp tục điều khiển xe đi vào hướng xã Đắk Kan. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, Q quay lại dẫn A đến ngã ba đường Nguyễn Huệ và đường bê tông đi thôn Đ, xã Đ, thuộc thị trấn Prồi đưa cho A 01 gói nilon bên trong chứa ma túy đá. Nhận được ma túy, A trả cho Q số tiền 500.000đồng. Ngay sau đó, Công an huyện Ngọc Hồi đến kiểm tra thì Q liền điều khiển xe mô tô bỏ chạy còn A bị khống chế, bắt giữ.

Kết luận giám định số: 66/KLGĐ ngày 30-3-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kon Tum xác định: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ từ Đỗ .TA là ma túy (loại Methamphetamine), khối lượng 0,428 gam. Tại Bản cáo trạng số: 36/CT-VKS ngày 20-7-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi truy tố Đỗ .TA về tội “Tàng trữ trài phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo tHnh khẩn khai báo; biết ăn năn, hối cải.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực Hnh quyền công tố khẳng định việc truy tố đối với Đỗ .TA là có căn cứ, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trài phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ .TA mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi Hnh án, được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam.

2. Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy; tịch thu, nộp ngân sách NH nước chiếc điện thoại di động trong vụ án.

3. Về án phí: Đề nghị căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngọc Hồi và Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thẩm quyền các thủ tục tiến Hnh tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Trần Hữu H; người làm chứng - A Nguyễn ThA Th; người chứng kiến - A H Văn S, đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên, Hội đồng xét xử vẫn tiến Hnh xét xử.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ .TA khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Vào tối ngày 26-3-2020, tại ngã ba đường Nguyễn Huệ và đường Trần Hưng Đạo thuộc thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, Tổ công tác Công an huyện Ngọc Hồi bắt quả tang Đỗ .TA đang tàng trữ một gói chất nghi là ma túy. A khai nhận gói chất này là ma túy đá mà bị cáo vừa mua của một người đàn ông tên Q với giá 500.000đồng, với mục đích để sử dụng cho nhu cầu của bản thân.

Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Kon Tum thể hiện: Gói chất thu giữ từ Đỗ .TA là ma túy (loại Methamphetamine), có khối lượng 0,428 gam. Tại thời điểm thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Đỗ .TA là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi truy tố Đỗ .TA theo điều luật vừa nêu, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, thấy r ng: Hành vi của Đỗ .TA là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết r , ma túy là chất độc dược có khả năng gây nghiện cao, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng của người sử dụng. Tội phạm về ma túy là một trong những tội phạm có khả năng làm nảy sinh ra nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bởi vậy, những hành vi như mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép loại chất này bị pháp luật nghiêm cấm. Mặc dù vậy, với mong muốn được sử dụng chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội thể hiện ý thức liều lĩnh, coi thường pháp luật của bị cáo; gây ảnh hưởng xấu đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt một mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Đỗ .TA không phải chịu các quy định về tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặt khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải – đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Bên cạnh đó, trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự trước đây, Đỗ .TA đã hoàn tHnh xuất sắc nhiệm vụ, được Sư đoàn BB2 tặng thưởng giấy khen; hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình có cha mẹ bị bệnh tật (được chính quyền địa phương xác nhận), nên bị cáo được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Do vậy, c ng cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, sớm cải tạo thành người có ích.

[5] Với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ cùng nhân thân của bị cáo Đỗ .TA như đã phân tích, đánh giá ở trên, thấy rằng: Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục người phạm tội, đồng thời c ng nh m để răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đỗ .TA hiện nay là lao động chính, đang nuôi cha mẹ bệnh tật, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Nguồn gốc gói ma túy trong vụ án theo lời khai của Đỗ .TA, là do một người có tên Q bán cho bị cáo. Tuy nhiên, hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Q, nên chưa đủ cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với người này.

[8] Về vật chứng của vụ án: Cùng với số ma túy, Cơ quan điều tra còn thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động.

Xét thấy: Số ma túy là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy. Chiếc điện thoại do bị cáo sử dụng liên hệ với đối tượng tên Q để mua ma túy, nên tích thu nộp ngân sách NH nước.

[9] Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ xe ô tô biển kiểm soát 81K4 - 8499 do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Sau khi làm, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu là bà Ngô Thị K theo đúng quy định của pháp luật. 

[10] Về án phí: Bị cáo Đỗ .TA phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ .TA phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Đỗ .TA 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi Hnh án, được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 26-3-2020 đến ngày 07-5-2020).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì chứa mẫu vật sau khi trích giám định được niêm phong, mặt trước có ghi nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 66/KLGĐ-PC09”, tại mép dán có các dấu tròn ghi nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* CÔNG AN TỈNH KON TUM*” và có các chữ ký của Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn Hn Ni, Đỗ Thị ThA Huyền tại mép dán. (mẫu vật hoàn lại sau giám định).

- Tịch thu, nộp ngân sách NH nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, Model: 1280, màu đen, số IMEI: 359748/04/743292/8, gắn 01 Sim số: 0327113349.

Các vật chứng, tài sản nêu trên như được ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04-8-2020 giữa Công an huyện Ngọc Hồi và Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Ngọc Hồi.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và dA mục mức án phí, lệ phí Tòa án (Ban Hnh kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội);

- Buộc bị cáo Đỗ .TA phải nộp là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 21-9-2020), bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. 


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2020/HS-ST ngày 21/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:42/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hồi - Kon Tum
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về