Bản án 42/2020/HSST ngày 07/02/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 42/2020/HSST NGÀY 07/02/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 02 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố H, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2020/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức T Sinh ngày 21 tháng 9 năm 1983; tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Tứ và bà: Nguyễn Thị L (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T, có 02 con lớn sinh năm 2012 nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị bắt, tạm giam ngày 06/12/2019, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 06/12/2019 tại khu vực tổ 5 khu 3, phường Hà Tu, thành phố H, Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện Nguyễn Đức T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng.

Bản kết luận giám định số 950/GĐMT ngày 10/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức T là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng 0,182 gam.

Nguyễn Đức T khai nhận số ma túy bị thu giữ mua của một người không quen biết ở khu vực tổ 5 khu 3, phường H, thành phố H, vào khoảng 16 giờ ngày 06/12/2019 với giá 200.000đ, mục đích để sử dụng, khi đang đi tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị phát hiện bắt giữ.

Bản cáo trạng số 22/CT-VKSHL ngày 09/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù; Vật chứng lượng ma túy còn lại sau giám định tịch thu tiêu hủy.

Quá trình khai báo bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:

Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức T thể hiện do bản thân nghiện chất ma túy từ năm 2012; bị cáo đến thành phố H để tìm việc làm, chiều ngày 06/12/2019 có nhu cầu sử dụng ma túy bị cáo tìm mua của một người không quen biết 01 gói ma túy, sau đó cất trong vỏ bao thuốc lá để trong túi quần đi tìm chỗ sử dụng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện thu giữ.

Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh và phù hợp với lời khai của người làm chứng Nguyễn Văn Thuân, Phạm Văn Hải về việc chứng kiến cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, bắt, thu giữ vật chứng của bị cáo; Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16 giờ 20 phút ngày 06/12/2019 và bản kết luận giám định chất ma túy số 950/GĐMT ngày 10/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Như vậy có căn cứ kết luận vào khoảng 16 giờ ngày 06/12/2019 tại khu vực tổ 5 khu 3, phường H, thành phố H, Nguyễn Đức T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ; khối lượng chất ma túy bị thu giữ là 0,182 gam loại Heroine. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

[3] Tính chất mức độ, hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ma túy là hiểm họa và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm xã hội khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với xã hội cũng như đối với sức khỏe, nhưng đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, cất giữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích thỏa mãn việc sử dụng ma túy của bản thân. Bị cáo đã có thời gian dài nghiện chất ma túy nhưng không từ bỏ mà tiếp tục sử dụng chất ma túy. Vì vậy cần thiết phải xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, nhận thức được việc làm của bản thân là nguy hiểm cho xã hội, đây là tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đi với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án.

[5] Về vật chứng: Lượng ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong đây là vật cấm lưu hành mà bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về hình phạt bổ sung không phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về án phí bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Nguyễn Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Nguyễn Đức T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 06/12/2019.

Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự.

Tch thu tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 950/GĐMT ngày 10/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

(Tình trạng các vật chứng trên như biên bản giao nhận vật chứng số 87/BB- THA ngày 04/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2020/HSST ngày 07/02/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:42/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 07/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về