Bản án 42/2019/HNGĐ-ST ngày 28/02/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 42/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/02/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 832/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2018, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trà Văn H – sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Chị Lê Chúc V – sinh năm 1984.

Đa chỉ: Ấp N, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Ti phiên tòa, anh H có mặt, chị V vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/12/2018 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn anh Trà Văn H trình bày:

Về hôn nhân: Anh và Vi tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, chị không quan tâm, chăm sóc gia đình, bỏ nhà ra đi khi con vẫn còn rất nhỏ, thiếu tình yêu thương dành cho chồng và con, hiện anh chị đã ly thân nhau. Nay anh yêu cầu ly hôn với chị V.

Về con chung: Anh và chị V có 01 con chung là cháu Trà Ngọc T, sinh ngày 31/12/2016, cháu T hiện đang sống với anh. Khi ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung, nợ người khác và người khác nợ lại: Anh H xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là chị Lê Chúc V đúng theo quy định pháp luật nhưng chị V không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị Lê Chúc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Lê Chúc V.

[2] Về hôn nhân: Anh Trà Văn H và chị Lê Chúc V tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 22/12/2015 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị V được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.

Anh H xác định nguyên nhân dẫn đến yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, chị V không quan tâm, chăm sóc gia đình, nhưng quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn không có văn bản thể hiện ý kiến và phía nguyên đơn không cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình nên không có căn cứ chấp nhận đây là nguyên nhân mâu thuẫn để xem xét cho ly hôn. Tuy nhiên, tại phiên tòa, anh H xác định chị không còn tình cảm vợ chồng với chị V và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn với chị V. Đồng thời khẳng định đời sống hôn nhân không thể duy trì, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàng gắn đoàn tụ. Trường hợp tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của anh H được ly hôn với chị V.

[3] Về nuôi con chung: Anh H và chị V có 01 người con chung là cháu cháu Trà Ngọc T, sinh ngày 31/12/2016, cháu T hiện đang sống với anh H. Tại phiên tòa, anh H yêu cầu được nuôi trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu T hiện còn nhỏ, chưa đủ tuổi để ghi nhận nguyên vọng theo quy định pháp luật nên cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của cha hoặc mẹ mà quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng cháu. Anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T từ lúc cháu sinh ra cho đến nay, do chị V đã bỏ đi và giao cháu Thảo lại cho anh H. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, chị V không có văn bản phản bác hay đặt ra yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, anh H xác định có đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của anh H, giao cháu T cho anh H trực tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp. Chị V không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, việc cấp dưỡng cho con là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình. Về mức cấp dưỡng, theo quy định tại Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại khoản 2, mục III của Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng tối thiểu không dưới 1/2 mức lương cơ sở do nhà nước quy định tại thời điểm xét xử đối với 01 người con, mức lương cơ sở hiện nay là 1.390.000 đồng, do đó chị V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Thảo số tiền 695.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 28/02/2019.

[4] Về tài sản chung, nợ người khác và người khác nợ lại: Anh H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án.

[5] Về án phí sơ thẩm: Anh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, chị V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 110, 116 và 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trà Văn H về việc yêu cầu được ly hôn với chị Lê Chúc V.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Anh Trà Văn H được ly hôn với chị Lê Chúc V.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trà Ngọc T, sinh ngày 31/12/2016 cho anh Trà Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị Lê Chúc V không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng: Buộc chị Lê Chúc V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trà Ngọc T số tiền 695.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 28/02/2019

4. Về án phí sơ thẩm: Anh Trà Văn H đã dự nộp trước 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002521 ngày 17/12/2018 được chuyển thu án phí. Chị Lê Chúc V còn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Anh Trà Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Lê Chúc V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

169
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2019/HNGĐ-ST ngày 28/02/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:42/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 28/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về