Bản án 42/2019/DS-ST ngày 28/08/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH L

BẢN ÁN 42/2019/DS-ST NGÀY 28/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 109/2019/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2019 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Võ Thành T, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn Thạnh H, huyện Thạnh H, tỉnh L.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Võ Thành C, sinh năm 1956; Địa chỉ: Ấp Nguyễn Sơn, xã NHL, huyện Tân T, tỉnh L. (Văn bản ủy quyền ngày 20/5/2019)

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp Sậy Giăng, xã Bình T, huyện M, tỉnh L.

Ông C có mặt; ông P vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thành T: Ông Võ Thành T yêu cầu ông Nguyễn Thanh P phải trả cho ông T số tiền mua vật tư nông nghiệp còn nợ là 10.000.000đ và yêu cầu tính lãi theo lãi suất 1,2%/tháng; yêu cầu phải trả một lần.

Đề nghị của ông Nguyễn Thanh P: Ông Nguyễn Thanh P vắng mặt, không có ý kiến.

Các tài liệu, chứng cứ do ông Võ Thành T cung cấp: 01 CMND và sổ hộ khẩu (bản phô tô), đơn xin xác nhận nơi cư trú (bản chính), chứng từ mua bán ngày 16/4/2018; một bản tự khai.

Các tài liệu, chứng cứ do ông Nguyễn Thanh P cung cấp: Không.

Các tình tiết của vụ án: Các tình tiết ông Võ Thành T trình bày: Vào ngày 16/4/2018, ông Nguyễn Thanh P có mua phân thuốc của ông T, còn thiếu lại số tiền 10.000.000đ đến nay không trả.

Tại phiên tòa, ông C đại diện ông T xác định rút yêu cầu tính lãi. Ông C đề nghị không công khai bản án trên cổng thông tin điện tử tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ pháp luật là “Hợp đồng mua bán tài sản” được quy định tại Bộ luật dân sự. Ông Nguyễn Thanh P có địa chỉ tại xã Bình T, huyện M, tỉnh L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về việc giải quyết vắng mặt ông Nguyễn Thanh P: Ông Nguyễn Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông P.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thành T đối với số nợ gốc:

Ông Võ Thành T khởi kiện và cung cấp chứng cứ là giấy xác nhận nợ ngày 16/4/2018; ông Nguyễn Thanh P vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng không có ý kiến phản bác yêu cầu khởi kiện của ông T nên Tòa án căn cứ vào lời trình bày và tài liệu, chứng cứ của ông T cung cấp để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Theo nội dung giấy xác nhận nợ ngày 16/4/2018 thì ông P có mua vật tư nông nghiệp của ông T với tổng số tiền là 10.000.000đ nên căn cứ vào Điều 92 và Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T đối với ông P, buộc ông P có nghĩa vụ trả ông T số tiền nợ gốc là 10.000.000đ.

[4]. Về yêu cầu khởi kiện của ông Võ Thành T đối với số nợ lãi: Ông T rút yêu cầu tính lãi là tự nguyện nên căn cứ Điều 217, Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính lãi của ông T đối với ông P.

[5]. Về thời gian trả và cách thức trả: Ông T yêu cầu trả một lần, ông P vắng mặt nên xem như các đương sự không thỏa thuận được, vấn đề này thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan Thi hành án dân sự nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[6]. Về án phí: Ông Nguyễn Thanh P phải chịu số tiền 500.000đ án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước. Ông Võ Thành T không phải chịu án phí nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản của ông Võ Thành T đối với ông Nguyễn Thanh P, buộc ông P có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền gốc là 10.000.000đ (mười triệu đồng).

Căn cứ Điều 217, Điều 218, Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính lãi của ông Võ Thành T đối với ông Nguyễn Thanh P. Ông T có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, về án phí: Buộc ông Nguyễn Thanh P phải chịu số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước. Ông Võ Thành T không phải chịu án phí, hoàn trả cho ông T số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002813 ngày 31 tháng 5 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.

Căn cứ vào các Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, về trách nhiệm do chậm nộp các khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Căn cứ vào các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.

Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2019/DS-ST ngày 28/08/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

Số hiệu:42/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộc Hóa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về