Bản án 41/2019/HS-ST ngày 24/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH N

BẢN ÁN 41/2019/HS-ST NGÀY 24/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2019/TLST-HS, ngày 19 tháng 3 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST-HS ngày 09/4/2019 đối với bị cáo:

Hoàng Văn C1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/8/19xx tại xã H2, thành phố P, tỉnh N; nơi đăng ký HKTT tại: Xóm x thôn T3, xã H2, thành phố P, tỉnh N; chỗ ở: Xóm 4, thôn K, xã H2, thành phố P, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn P, sinh năm: 1958 và bà Triệu Thị H1, sinh năm: 1961; có vợ là Lê Thị T1 (đã ly hôn) và 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm: 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang ngày 24/12/2018, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố P, có mặt.

Người làm chứng: Anh Từ Văn C2, anh Lê Văn T2 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ ngày 24/12/2018 tại khu vực đường quốc lộ xx, thuộc thôn T3, xã H2, thành phố P, tỉnh N, Hoàng Văn C1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,273 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố Pbắt quả tang.

Vật chứng thu giữ của bị cáo C1 gồm: 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động Itel, màu đỏ lắp sim số: 0962907011 và số tiền 1.200.000đồng.

Tại bản kết luận giám định số: 87/GĐMT ngày 26/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận: 01 túi nilon nhỏ màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ của Hoàng Văn C1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là: 0,273 gam (không phẩy hai bảy ba gam). Hoàn lại cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Pmẫu vật niêm phong số: 87/GĐMT: 0,22gam.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn C1 khai nhận: C1 sử dụng ma túy đá từ năm 2015. Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 23/12/2018, C1 điều khiển xe mô tô một mình đến ngã ba chợ Ô1, phường Ô2, thành phố P mua của người xe ôm không quen biết một gói ma túy đá giá 350.000đồng, mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, C1 lấy ma túy đá sử dụng một ít, phần còn lại cho vào vỏ thuốc lá Thăng Long cất giấu trong túi quần để sử dụng. Khoảng 10 giờ, ngày 24/12/2018, C1 cầm theo túi ma túy đá đi bộ đến quốc lộ xx, thuộc thôn T3, xã H2, thành phố Pmục đích tìm chỗ sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Bị cáo C1 khẳng định việc Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử bị cáo hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội không oan.

Người làm chứng anh Từ Văn C2, anh Lê Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại cơ quan điều tra có lời khai thể hiện: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 24/12/2018, các anh C2, T2 có việc đi qua khu vực đường quốc lộ 18A, thuộc thôn T3, xã H2 thì nhìn thấy Công an bắt quả tang và niêm phong vật chứng của một nam giới có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói chất ma túy đá tại túi quần bên trái phía trước, thu bên túi quần bên phải phía trước 01 chiếc điện thoại và 1.200.000đồng. Người nam giới đó khai tên là Hoàng Văn C1. Giữa các anh C2, T2 với C1 không có mâu thuẫn.

Tại bản cáo trạng số: 37/CT - VKS - CP, ngày 18/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ptruy tố bị cáo Hoàng Văn C1 ra trước Tòa án nhân dân thành phố Pđể xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS).

Kiểm sát viên trình bày luận tội đưa ra các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Văn C1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 24/12/2018, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,22 gam ma tuý đá; trả bị cáo Hoàng Văn C1 một chiếc điện thoại di động Intel và 1.200.000đồng.

Đi với người đàn ông bán ma túy cho C1 do không có thông tin cụ thể về nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xác minh làm rõ Tại phần tranh luận, bị cáo C1 không tranh luận và đưa ra đề nghị gì trước nội dung luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, khẳng định việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và vật chứng thu giữ cũng như các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định số: 87/GĐMT ngày 26/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N và bản luận tội của Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa.

Với các chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ ngày 24/12/2018 tại khu vực đường quốc lộ xx, thuộc thôn T3, xã H2, thành phố P, tỉnh N, Hoàng Văn C1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,273 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố P bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma tuý, từng tự nguyện cai nghiện nhưng khi trở về gia đình, xã hội đã không rèn luyện tu dưỡng bản thân để từ bỏ ma túy mà bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật có hành vi tàng trữ trái phép 0,273 gam ma túy đá mục đích để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, thỏa mãn dấu hiệu và đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nội dung luận tội của Kiểm sát viên phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị xét xử đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) thì thấy: Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy; Về tình tiết tăng nặng: Không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật mà cải tạo, giáo dục thành người lương thiện có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS. Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định, nhằm giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhưng bị cáo là đối tượng sử dụng ma tuý không có công việc thu nhập ổn định nên không áp dụng.

[6] Về vật chứng: 0,22 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel và 1.200.000đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Áp dụng: Điềm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên b: Bị cáo Hoàng Văn C1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn C1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 24/12/2018.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 87/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N; Trả lại bị cáo Hoàng Văn C1 1.200.000đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) và 01 (một) chiếc điện thoại di động Itel, màu đỏ, model: it2120, số IMEI: 354975082359246, số IMEI: 354975082359253, kèm 01 pin, kèm 01 sim.

(Tình trạng vật chứng được thi hành theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 78/BB-THA, ngày 17/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố P).

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng Văn C1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HS-ST ngày 24/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:41/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về