Bản án 40/2020/HS-ST ngày 29/07/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 40/2020/HS-ST NGÀY 29/07/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2020/QĐXXST-HS ngày 17/7/2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đức L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 12 tháng 7 năm 1990, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức L, sinh năm 1964 và bà Trần Thị N, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2020 đến nay (có mặt).

Người chứng kiến: Anh Hoàng Ngọc T, sinh năm 1985 (vắng mặt). Trú tại: Khối L, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Khong 18 giờ ngày 21 tháng 5 năm 2020, Lê Đức L một mình đón xe taxi đi từ nhà xuống khu vực ngã ba Y thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi xuống đến nơi Lê Đức L gặp và mua được của một người đàn ông L không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể một gói ma túy giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Lê Đức L cầm gói ma túy trong long bàn tay trái của mình rồi đón taxi về thị xã T. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến khu vực khối L, phường L, thị xã T, Lê Đức L xuống xe taxi và đi bộ để tìm nơi sử dụng số ma túy vừa mua được thì bị tổ công tác Công an thị xã T tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của L một gói ni lông màu hồng, kích thước (2x2,5)cm, bên trong có chứa 06 (sáu) viên nén màu hồng, mỗi viên có đường kính 0,5cm, một bề mặt của viên nén có in chữ “WY”, L khai nhận đó là ma túy tổng hợp. Tổ công tác Công an thị xã T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, dẫn giải Lê Đức L cùng tang vật về trụ sở Công an thị xã T để điều tra.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 21/5/2020, của Cơ quan CSĐT Công an thị xã T xác định: 06 (sáu) viên nén màu hồng thu giữ của Lê Đức L có khối lượng là 0,59g (không phẩy năm mươi chín gam) sau khi đã loại bỏ bao bì.

Tại kết luận giám định số 699/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 26/5/2020, của phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lê Đức L gửi tới giám định là ma tuý (Methamphetamine).

Tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKS ngày 25 tháng 6 năm 2020, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố Lê Đức L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 - BLHS.

Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - BLHS: Xử phạt bị cáo Lê Đức L từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng Hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (18 x 10) cm, bên trong chứa vỏ giấy niêm phong và 0,4 gam viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) thu giữ của Lê Đức L (số còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Bị cáo nhất trí về tội danh, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 35 phút ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại khối L, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An cùng vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người chứng kiến trong quá trình điều tra và phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã xác định được: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại khối L, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Công an thị xã T đã bắt quả tang Lê Đức L tàng trữ 0,59g (không phẩy năm mươi chín gam) ma túy (Methamphetamine) để sử dụng. Nên hành vi của bị cáo Lê Đức L đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật Hình sự  như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây tác hại cho sức khỏe của con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân gây ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của mình là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy việc đưa vụ án ra xét xử công khai kịp thời là cần thiết, góp phần trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương, đặc biệt là tội phạm về ma túy nên cần xét xử nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Mặt khác trong thời gian đi nghĩa vụ quân sự, bị cáo được Lữ đoàn Công binh 414 tặng danh hiệu “Chiến sỹ tiên tiến” và bị cáo được Công ty cổ phần H tặng giấy khen vì đã đạt thành tích “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2008”. Do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Vật chứng vụ án: Một phong bì thư hình chữ nhật kích thước 18cm x 10cm bên trong chứa 0,4 gam viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) và vỏ giấy niêm phong thu giữ của Lê Đức L (số còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định) cần tịch thu, tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 - BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 - BLTTHS.

[6] Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Lê Đức L tại khu vực Ngã ba Y thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào ngày 21/5/2020, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không đủ cơ sở để xử lý.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - BLHS:

Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lê Đức L 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/5/2020.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 - BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Tịch thu, tiêu huỷ 01 phong bì thư hình chữ nhật kích thước 10cm x 18cm đã được niêm phong, bên trong có chứa 0,4 gam viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) và vỏ giấy niêm phong thu giữ của Lê Đức L (số còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

Tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2020 giữa Công an thị xã Thái Hoà và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà.

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lê Đức L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2020/HS-ST ngày 29/07/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:40/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Thái Hòa - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/07/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về