Bản án 40/2020/HS-ST ngày 17/09/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 40/2020/HS-ST NGÀY 17/09/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 17 tháng 9 năm 2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện VN, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Văn Kh; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 14 tháng 11 năm 1995 tại Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: xóm QT, xã TT, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Đặng Văn Ph – Sinh năm 1975 và bà Phan Thị Ng - Sinh năm 1976; Anh chị em ruột: Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 01; Vợ: Triệu Thị Ch - Sinh năm 1999; Con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2020 đến ngày 04/6/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh.

2. Họ và tên: Lê Đức A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24 tháng 6 năm 1998 tại Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Xóm TT, xã TP, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Lê Quang H, (đã chết) và bà Ngô Thị Th - Sinh năm 1977; Anh chị em ruột: bị cáo là con thứ 01 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2020 đến ngày 04/6/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh.

3. Họ và tên: Vi Văn Th; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày:

09 tháng 7 năm 1982 tại Võ Nhai, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: TM, LT, VN, Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Vi Văn Th, (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1954; Anh chị em ruột: Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 04; Vợ: Nguyễn Thị Th - Sinh năm 1986 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án; Tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2020 đến ngày 04/6/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh.

4. Họ và tên: Vũ Đình H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày:

24 tháng 9 năm 1993 tại Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: tổ 15, phường GS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông Vũ Đình Th - Sinh năm 1971 và bà Đặng Thị Thu H - Sinh năm 1971; Anh chị em ruột: bị cáo là con thứ 01 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2020 đến ngày 04/6/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh.

5. Họ và tên: Nguyễn Xuân H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 17 tháng 02 năm 1981 tại Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: xóm TM, xã LT, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Vương Thị Y - Sinh năm 1960; Anh chị em ruột: Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 01; Vợ: Lâm Thị V - Sinh năm 1988; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án; Tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2020 đến ngày 04/6/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh.

(các bị cáo đều có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981, có mặt.

Cư trú tại: xóm ĐĐ, xã LT, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Đình H2, sinh năm 1985, vắng mặt.

2. Anh Ngô Thượng Minh D, sinh năm 1994, vắng mặt.

Đều cư trú tại: xóm ĐĐ, xã LT, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

- Người chứng kiến: Anh Lê Văn Q, sinh năm 1964, vắng mặt.

Cư trú tại: xóm ĐĐ, xã LT, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 30 phút ngày 29/5/2020 Công an huyện VN nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại phòng trọ của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981, tại xóm ĐĐ, xã LT, huyện VN, có một số đối tượng đang tổ chức đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây sát phạt nhau bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đến hồi 21 giờ 45 phút cùng ngày Tổ công tác Công an huyện VN phối hợp với Công an xã LT phát hiện tại nhà trọ bà Tuyết có địa chỉ nêu trên các đối tượng Lê Đức A, sinh năm 1998, trú tại Xóm TT, xã TP, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên; Vũ Đình H, sinh năm 1993, trú tại Tổ 15, phường GS, Thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Đặng Văn Kh, sinh năm 1995, trú tại xóm QT, xã TT, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; Vi Văn Th, sinh năm 1982 và Nguyễn Xuân H, sinh năm 1982, cùng trú tại xóm TM, xã LT, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên đang ngồi đánh bạc bằng quân bài tú lơ khơ bằng hình thức đánh ba cây thắng thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với có lý lịch như đã nêu trên, thu giữ số tiền 7.600.000 đồng trên chiếu bạc, 36 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếu trúc màu vàng.

Vật chứng thu giữ trên chiếu bạc gồm: 7.600.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 36 quân bài tú lơ khơ bao gồm các quân bài đánh thứ tự từ A (át) đến 9 mỗi loại gồm 04 chất quân Rô, Cơ, Bích, Tép; 01 chiếu trúc màu vàng kích thước (1,6 x 1,9) m.

Tại Cơ quan điều tra Công an huyện VN các đối tượng khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 29/5/2020 Lê Đức A, Vi Văn Th, Vũ Đình H, Đặng Văn Kh và Nguyễn Xuân H cùng là công nhân xây dựng tại xóm ĐĐ, xã LT, huyện VN, ngồi uống bia tại xóm ĐĐ, xã LT, huyện VN. Khi uống bia Kh nói “Tí về phòng làm tí ” ý rủ mọi người sau khi uống bia xong về phòng trọ của Kh đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Kh ở trọ cùng với Đức A, H tại nhà chị T ở xóm xóm ĐĐ, xã LT), nghe vậy Đức A, Th, H, H1 đồng ý, đến khoảng 21 giờ Th đến phòng trọ của Kh, Đức A, H để đánh bạc. Kh lấy một bộ bài tú lơ khơ từ cửa sổ để từ trước đó rồi cùng Đức A, H, Th chọn ra 36 quân bài gồm các quân từ A (át) đến 9 mỗi loại có bốn chất Rô, Cơ, Tép, Bích rồi cùng ngồi tại chiếu trúc trải trên giường gỗ kê ở góc phía đông bắc của phòng bắt đầu đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Đức A là người cầm chương đầu tiên. Khoảng 10 phút sau H1 đi bộ đến phòng và cùng tham gia đánh bạc. Cách thức và quy ước đánh bạc như sau: người cầm chương chia cho 05 người mỗi người 03 quân bài bất kỳ sau đó cùng nhau lật bài cộng điêm của các quân bài. Quân A tính là 1 điểm, các quân còn lại tính điểm tương ứng với các số in trên mặt quân. Khi cộng điểm nếu cao hơn 10, 20 điểm thì lấy số dư làm điểm xét, trường hợp nếu các bài bằng nhau sẽ xét thắng thua dựa trên chất, quy ước chất rô giá trị lớn nhất, tiếp đó là chất cơ, tép, bích. Đối với chất rô quân A rô giá trị cao nhất tiếp đó đến quân 9 rô rồi giảm dần đến 2 rô:

đối với chất cơ, tép, bích quân 9 giá trị cao nhất rồi giảm dần đến quân A. Người cầm chương sẽ xét điểm thắng thua với 4 người chơi còn lại, nếu chương có tổng điểm dưới 9, 10 điểm và cao hơn người chơi khác thì sẽ được nhận 50.000 đồng từ mỗi người chơi thấp điểm hơn, nếu thấp hơn thì sẽ phải trả cho người chơi cao điểm hơn 50.000 đồng; nếu chương đạt điểm 9, 10 và thắng thì mỗi người chơi bị thua sẽ phải trả cho chương 100.000 đồng, ngược lại nếu chương thua người chơi đạt 9, 10 điểm phải trả cho người thắng 100.000 đồng. Trong quá trình đánh nếu ai có bài 03 quân liên tiếp cùng chất (dây) hoặc có 03 quân cùng loại (sáp) thì tất cả những người chơi còn lại sẽ phải trả 50.000 đồng cho người được sáp, dây đó. Nếu ai được 10 điểm có chất cao nhất sẽ là người cầm chương do vậy các đối tượng thay nhau cầm chương. Khi đánh bạc các đối tượng đặt tiền sử dụng vào việc đánh bạc tại chiếu gần vị trí ngồi, khi trả tiền sẽ đặt tiền vào giữa chiếu bạc cho người thắng nhận. Khi cơ quan Công an đến bắt giữ đã thu được 7.600.000 đồng tiền các đối tượng đang đánh bạc để trên chiếu bạc.

Lê Đức A là người cầm chương chia bài đầu tiên, quá trình đánh bạc Đức A có khoảng 1.000.000 đồng sử dụng đánh bạc nhiều ván có ván thắng, có ván thua. Khi đang thắng được khoảng 1.000.000 đồng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang; Vi Văn Th đã sử dụng khoảng 1.500.000 đồng để đánh bạc nhiều ván, khi đang bị thua còn khoảng 300.000 - 400.000 đồng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ; Vũ Đình H quá trình đánh bạc đã sử dụng khoảng 2.000.000 đồng, H đánh được thua nhiều ván, khi đang đánh bạc thì bị cơ quan công an đến bắt quả tang; Đặng Văn Kh đã sử dụng khoảng 1.000.000 đồng đánh bạc, Kh tham gia đánh bạc từ đầu đánh nhiều ván có ván thắng có ván thua cho đến khi cơ quan Công an đến bắt quả tang; Nguyễn Xuân H1 đã sử dụng khoảng 2.000.000 đồng đánh bạc, H1 đến sau các đối tượng còn lại khoảng 10 phút và tham gia đặt tiền xuống chiếu để đánh bạc đến khi cơ quan Công an đến bắt quả tang. Các đối tượng đều dùng hết số tiền có trong người mang đi để đánh bạc và đặt tiền xuống chiếu ở trước mặt để cùng nhau đánh bạc, do đó khi cơ quan điều tra đến đã thu giữ tổng số tiền 7.600.000 đồng như đã nêu trên.

Do có hành vi trên tại Bản cáo trạng số 39/CT-VKSVN ngày 21/8/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện VN, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh Thái Nguyên để xét xử đối với bị cáo Đặng Văn Kh và đồng phạm về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự:

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện VN đã trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đặng Văn Kh, Lê Đức A, Vi Văn Th, Vũ Đình H, Nguyễn Xuân H1 phạm tội “Đánh bạc ”, đề nghị áp dụng pháp luật xử phạt đối với các bị cáo như sau:

*Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 65 BLHS; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, xử phạt các bị cáo:

Đặng Văn Kh từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng:

Lê Đức A, Vi Văn Th, Vũ Đình H, Nguyễn Xuân H1 cùng mức án từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng:

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước:

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng là công cụ liên quan phục vụ cho việc đánh bạc và vật không có giá trị, bao gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 36 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếu trúc màu vàng kích thước 190x 160cm.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 7.600.000 đồng tiền thu trên chiếu bạc.

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo nhất trí với bản luận tội, không tranh luận với Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng đều nhận thức được việc đánh bạc là sai, xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án thấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện VN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện VN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, các bị cáo đều xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 21 giờ ngày 29/5/2020 tại phòng trọ của chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 thuộc xóm ĐĐ, xã LT, huyện VN, Thái Nguyên, các đối tượng Lê Đức A, Vi Văn Th, Vũ Đình H, Đặng Văn Kh và Nguyễn Xuân H1 tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh ba cây bằng tú lơ khơ sát phạt nhau được thua bằng tiền, khi đang đánh bạc thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VN bắt giữ, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 7.600.000 đồng. Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ một số đồ vật, dụng cụ dùng cho việc đánh bạc và một số vật chứng khác.

Như vậy, tổng số tiền của các bị cáo đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây bằng tú lơ khơ ngày 29/5/2020 là 7.600.000 đồng, hành vi của các bị cáo Đặng Văn Kh, Lê Đức A, Vi Văn Th, Vũ Đình H và Nguyễn Xuân H1 đã phạm vào tội "Đánh bạc" quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện VN, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó các bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.

[3]. Xét tính chất hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân tại địa phương. Xét thấy cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành con người tốt và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4]. Về vai trò đồng phạm trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, không mang tính chất tổ chức, không có sự phân công vai trò, vị trí của từng bị cáo. Bị cáo Đặng Văn Kh là người khởi xướng việc đánh bạc tại phòng trọ của mình do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Các bị cáo còn lại cùng nhất trí với Kh đến phòng trọ để tham gia đánh bạc nên đều có vai trò thứ yếu.

[5]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong vụ án không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[6]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền dùng để đánh bạc mỗi bị cáo có từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng do vậy xử các bị cáo mức án từ 06 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến18 tháng cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự còn có quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” Xét thấy, các bị cáo không thuộc đối tượng chính sách, các bị cáo phạm tội mang tính chất vụ lợi cần áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

[8]. Vật chứng của vụ án cần xử lý như sau:

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 36 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếu trúc màu vàng kích thước 190x 160cm là dụng cụ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo và vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Số 7.600.000 đồng bao gồm tiền thu trên chiếu bạc cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Đối với bà Nguyễn Thị T là chủ nhà trọ nhưng không có mặt ở nhà, qua điều tra xác định bà T không biết các đối tượng đến nhà mình đánh bạc, không hưởng lợi gì từ việc đánh bạc ở nhà mình nên bà T không đồng phạm với các bị can trong vụ án.

[11]. Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VN tại phiên toà về tội danh, hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các vấn đề có liên quan đối với các bị cáo trong vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử thấy cần được chấp nhận.

Bởi các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Văn Kh, Lê Đức A, Vi Văn Th, Vũ Đình H, Nguyễn Xuân H1 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt:

*Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo xử phạt:

- Đặng Văn Kh 9 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Lê Đức A 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Vũ Đình H 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Vi Văn Th 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Nguyễn Xuân H1 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo: Đặng Văn Kh cho UBND xã TT, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên; bị cáo Lê Đức A cho UBND xã TP, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên; bị cáo Vũ Đình H cho UBND phường GS, Thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; bị cáo Vi Văn Th, Nguyễn Xuân H1 cho UBND xã LT, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Đặng Văn Khg, Lê Đức A, Vi Văn Th, Vũ Đình H, Nguyễn Xuân H1 mỗi bị cáo 10.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 mặt trước phong bì ghi “36 quân bài” vụ Lê Đức A, Vi Văn Th, Vũ Đình H, Đặng Văn Kh, Nguyễn Xuân H1 “ Đánh bạc” phát hiện ngày 29/5/2020 tại xóm ĐĐ, xã LT, huyện VN; mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ của Công an xã LT, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên, 11 chữ ký, họ và tên của Đặng Văn Kh, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Đình H2, Ngô Thượng Minh D, Vũ Đình H, Vi Văn Th, Lê Đức A, Lê Văn Q, Lê Ngọc D, Đỗ Thế S; 01 chiếu trúc màu vàng đã qua sử dụng kích thước 190x160cm.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Số tiền 7.600.000 đồng tiền thu trên chiếu bạc.

(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện VN, có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện VN và Chi cục THADS huyện VN ngày 04/9/2020. Số tiền 7.600.000 đồng theo giấy Ủy nhiệm chi số 127 ngày 26/8/2020).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc các bị cáo Đặng Văn Kh, Lê Đức A, Vi Văn Th, Vũ Đình H, Nguyễn Xuân H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


33
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về