Bản án 40/2020/HS-ST ngày 11/06/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 40/2020/HS-ST NGÀY 11/06/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 11/6/2020, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2020/TLST-HS ngày 04/5/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2020/QĐXXST-HS ngày 28/5/2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đình L (H), sinh năm 1994, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố A, thị trấn L1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Thợ thạch cao; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình S và bà Nguyễn Thị T1; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 16/01/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn T (U), sinh năm 1994, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố B, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Khu phố C, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Thợ thạch cao; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn D (chết) và bà Mai Thị H; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 16/01/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1966. (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 19 giờ ngày 15/01/2020 Nguyễn Đình L một mình đến khu vực Công viên thuộc khu phố D thị trấn L, huyện Tuy Phong tìm gặp người thanh niên có tên gọi Ba Tấn (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 1.700.000 đồng. L đem gói ma túy đá mới mua được đến nhà của Nguyễn Văn T ở Khu phố C thị trấn L, huyện Tuy Phong. Tại đây, L lấy một ít ma túy đá để ra ngoài rồi rủ T sử dụng chung. Sử dụng ma túy xong, L lấy gói ma túy đá mua được đưa cho T bảo phân ra làm hai gói nhỏ, mục đích 01 gói để lại phòng của T để cả hai sử dụng chung, gói còn lại L đem đi sử dụng chung với bạn của L. Tuấn đồng ý dùng gói nylon phân chia gói ma túy đá lớn ra làm 2 gói nhỏ, T bỏ 02 gói ma túy đá vào chung trong một hộp giấy cất giấu trong phòng ngủ của T. Khoảng 08 giờ ngày 16/01/2020 L lấy 01 gói ma túy đá do T phân nhỏ ra cất giấu trong hộp giấy trong phòng ngủ của T rồi nhờ T điều khiển xe mô tô chở L đến quán cà phê Cây Cốc ở khu phố D thị trấn L, huyện Tuy Phong để sử dụng chung với bạn, sau đó T điều khiển xe mô tô về lại nhà của T, L cất giấu gói ma túy đá đi lòng vòng tìm bạn để sử dụng thì bị rơi mất. Khoảng 15 giờ cùng ngày, L quay về phòng của T cùng Tuấn tiếp tục dùng hết số ma túy đá lẻ sử dụng đêm hôm trước còn lại trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày Tổ công tác phòng chống ma túy Công an huyện Tuy Phong phối hợp với Công an thị trấn L tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong phòng ngủ của T 01 hộp giấy bên trong có 01 gói nylon không màu, có nẹp khóa màu xanh, kích thước 3x3cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 kéo cắt bằng kim loại dài 16cm, 01 kéo kẹp dài 16cm, 03 gói nylon (02 gói kích thước 3x3cm, 01 gói kích thước 2,5x2,5cm), 01 ống nhựa màu trắng sọc đỏ hàn kín một đầu một đầu cắt vát kích thước 11,5x1,5cm, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Thu giữ của T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng đồng, mặt kính màn hình bị vỡ, thu giữ của L 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đỏ tím.

Căn cứ bản kết luận giám định số 60/KLGĐ-PC09 ngày 21/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,3525 gam; là Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSTP-HS ngày 04/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Văn T cùng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L từ 15 – 18 tháng tù, Nguyễn Văn T từ 12 – 15 tháng tù. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon không màu có nẹp khóa màu xanh, kích thước 03x03cm và 0,2548 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 60 do đây là vật cấm lưu hành;

+ Tịch thu tiêu hủy 03 gói nylon (02 gói kích thước 3x3cm, 01 gói kích thước 2,5x2,5cm), 01 ống nhựa màu trắng sọc đỏ hàn kín một đầu một đầu cắt vát kích thước 11,5x1,5cm, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 kéo cắt bằng kim loại dài khoảng 16cm, 01 kéo kẹp dài khoảng 16cm được niêm phong trong phong bì số 04do không có giá trị sử dụng.

+ Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng đồng, mặt kính màn hình bị vỡ, trả cho bị cáo Nguyễn Đình L 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đỏ tím vì không liên quan đến vụ án.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Văn T: Các bị cáo thừa nhận các bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản Kết luận giám định số 60/KLGĐ-PC09 ngày 21/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, đủ cơ sở để kết luận: Vào 16 giờ 35 phút ngày 16/01/2020 tại nhà của Nguyễn Văn T tại Khu phố C, thị trấn L, huyện Tuy Phong, bị cáo Nguyễn Đình L và bị cáo Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy đã có hành vi cùng nhau cất giữ 0,3525 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì nghiện ma túy nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng, hành vi trái pháp luật của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, tiếp tay cho những phần tử xấu duy trì tệ nạn ma túy đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội nên cần xử phạt nghiêm để có tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, bị cáo L là người trực tiếp mua ma túy để cùng với bị cáo T sử dụng, do đó hành vi của bị cáo L có tính chất nguy hiểm hơn, phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo T, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo theo Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Gói nylon không màu, có nẹp khóa màu xanh, kích thước 3cm x 3cm và 0,2548 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 60; 01 hộp giấy đựng 03 gói nylon không màu có nẹp khóa (trong đó 02 gói có kích thước khoảng 3cm x 3cm, 01 gói có kích thước 2,5cm x 2,5cm), 01 ống nhựa màu trắng sọc đỏ hàn kín một đầu một đầu cắt vát kích thước 11,5cm x 1,5cm, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 kéo cắt bằng kim loại dài khoảng 16cm, 01 kéo kẹp dài khoảng 16cm được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 04 do đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng. Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng đồng, mặt kính màn hình bị vỡ được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02, trả cho bị cáo Nguyễn Đình L 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đỏ tím được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 03 vì không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần thiết tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[5] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình L và bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58;Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 16/01/2020.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 16/01/2020.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ: điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 gói nylon không màu, có nẹp khóa màu xanh, kích thước 03cm x 03cm và 0,2548 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì ký hiệusố 60;

+ 01 hộp giấy đựng 03 gói nylon không màu có nẹp khóa (trong đó 02 gói có kích thước khoảng 3cm x 3cm, 01 gói có kích thước 2,5cm x 2,5cm), 01 ống nhựa màu trắng sọc đỏ hàn kín một đầu một đầu cắt vát kích thước 11,5cm x 1,5cm, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 kéo cắt bằng kim loại dài khoảng 16cm, 01 kéo kẹp dài khoảng 16cm được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 04.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Đình L 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đỏ tím được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 03 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng đồng, mặt kính màn hình bị vỡ được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong)

3. Về án phí: Căn cứ: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2020/HS-ST ngày 11/06/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:40/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuy Phong - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 11/06/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về