Bản án 40/2019/HS-ST ngày 12/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 40/2019/HS-ST NGÀY 12/11/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2019/TLST-HS, ngày 26 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T tên gọi khác: Không, sinh năm 1972, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Bản H, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H (đã chết) và bà Pờ Thị B (đã chết); bị cáo có vợ là Vàng Thị T, sinh năm 1973 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/6/2019 đến ngày 15/6/2019 được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 09 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 6 năm 2019, Lò Văn T đang ở nhà thì có một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, mặc quần áo mưa, đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm đến hỏi T có mua Heroine không. Qua nói chuyện, T đã đồng ý mua của người đàn ông đó 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh ni lon màu hồng buộc thắt lại với giá 500.000 đồng. Mua được Heroine, T cất gói Heroine vào túi quần đang mặc, còn người đàn ông đó đi đâu, làm gì thì T không biết. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày 06/6/2019, T bỏ gói Heroine ra dùng tay cấu một ít và gói lại bằng mảnh ni lon màu hồng buộc thắt lại. Khi T đang tiếp tục cấu và chia nhỏ Heroine thì tổ công tác Công an huyện Phong Thổ vào kiểm tra. Do sợ bị phát hiện, T dùng tay mém một cục Heroine và một gói nhỏ Heroine được gói ngoài bằng ni lon màu hồng buộc thắt lại ra phía sau tủ Ti vi nhà T. Sau khi được tổ công tác phân tích, giải thích, T đã tự giác nhặt toàn bộ số Heroine dưới nền nhà phía sau tủ Ti vi nhà T giao nộp cho tổ công tác và khai đó là Heroine do T mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn T và thu giữ toàn bộ tang vật.

Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định và xác định vật chứng thu giữ được của Lò Văn T có khối lượng 0,74 gam, là ma túy, loại Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 36/CT-VKS, ngày 25 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Tịch thu T hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định và vỏ niêm phong cũ là vật chứng của vụ án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Lò Văn T đã thực hiện:

Li khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong vật chứng; kết luận giám định; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 06/6/2019, tại nhà ở của Lò Văn T, khi T lấy gói Heroine T mua được ra để chia thành các phần nhỏ thì tổ công tác Công an huyện Phong Thổ vào kiểm tra. Do sợ bị phát hiện, T dùng tay mém một cục Heroine và một gói nhỏ Heroine được gói ngoài bằng ni lon màu hồng buộc thắt lại ra phía sau tủ Ti vi nhà T. Sau khi được tổ công tác phân tích, giải thích, T đã tự giác nhặt toàn bộ số Heroine dưới nền nhà phía sau tủ Ti vi nhà T giao nộp cho tổ công tác và khai đó là Heroine do T mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn T và thu giữ toàn bộ tang vật.

Qua các kết quả giám định kết luận, vật chứng thu giữ được của Lò Văn T có khối lượng 0,74 gam, là ma túy, loại Heroine.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự với khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai số Heroine bị thu giữ là bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ, lai lịch cụ thể nên không có đủ cơ sở để xác minh người đã bán Heroine cho bị cáo.

[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mẹ của bị cáo là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và được Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tặng Huy chương “Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ”. Bị cáo là người dân tộc ít người, sống ở vùng cao, vùng xa có điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo còn khó khăn, bản thân là người nghiện chất ma túy, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm 0,6 gam Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ niêm phong cũ là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu T hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên bố:

1. Bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

2. Xử phạt bị cáo Lò Văn T: 20 (Hai mươi) tháng tù.

Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06 tháng 6 năm 2019 đến ngày 15 tháng 6 năm 2019. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Tch thu T hủy 0,6 gam Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ niêm phong cũ là vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản được lập hồi 15 giờ 40 phút, ngày 25/9/2019, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

4. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

213
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2019/HS-ST ngày 12/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:40/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phong Thổ - Lai Châu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về