Bản án 392/2019/HNGĐ-ST ngày 04/10/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 392/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, LY HÔN

Trong ngày 04 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 432/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 459/2019/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Bích T, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ 01, ấp V, xã VL, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ 03, ấp V, xã VL, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Tất cả đều vắng mặt tại phiên tòa, bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông N vắng mặt không lý do.

QUYẾT ĐỊNH

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn bà Võ Thị Bích T; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Võ Thị Bích T và ông Nguyễn Ngọc N tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân vào năm 2011, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã VL cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/9/2011.

Quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra cãi vả do bất đồng quan điểm sống. Cả 02 đã sống ly thân nhau từ năm 2015. Do cuộc sống hôn nhân không h nh phúc nên bà T xin được ly hôn với ông N.

- Về con chung: Bà T và ông N chưa có con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đ t hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Ngọc N không tham gia phiên họp công khai, tài liệu chứng cứ và hòa giải, nên không thể ghi nhận ý kiến của ông N.

Về chứng cứ:

Các tài liệu, chứng cứ do bà Võ Thị Bích T giao nộp:

- Bản sao Trích lục kết hôn số 533/TLKH-BS ngày 11/7/2019;

- Bản sao Sổ hộ khẩu gia đình mang tên Võ Văn B;

- Bản sao Giấy chứng minh nhân dân mang tên Võ Thị Bích T;

- Bản chính Bản tự khai ngày 12/7/2019 đứng tên Võ Thi Bích T. Các tài liệu, chứng cứ do ông Nguyễn Ngọc N giao nộp: Không có. Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập:

- Biên bản xác minh nơi cư trú do Công an xã VL, huyện An Phú cung cấp ngày 27/8/2019;

- Biên bản xác minh tình tr ng hôn nhân do Ban ấp V, xã VL cung cấp ngày 27/8/2019.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố Đơn khởi kiện, Bản tự khai cùng ngày 12/7/2019 của bà Võ Thị Bích T; công bố các tài liệu, chứng cứ do bà T giao nộp, các tài lia65u chứng cứ do Tòa án thu thập.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Ông N vắng mặt lần thứ hai không lý do, bà T có yêu cầu xét xử vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo trình bày của bà T và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà Võ Thị Bích T và ông Nguyễn Ngọc N đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành công khai tài liệu, chứng cứ và tống đ t các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Ông N đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Như vậy, ông N đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng; bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông N, bà T là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Hôn nhân giữa bà Võ Thị Bích T với ông Nguyễn Ngọc N tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã VL, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn năm 2011 (Giấy chứng nhận kết hôn số 115 ngày 29/9/2011). Bị đơn ông Nguyễn Ngọc N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã VL, huyện An Phú, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú theo quy định tại các điều 29, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quy định tại Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Về tình cảm: Bà T xác định nguyên nhân mâu thuẫn trong tình cảm là do giữa bà với ông N tính cách không hòa hợp; thường cãi vả; ông N không quan tâm chăm sóc và đã ly thân từ năm 2015. Qua xác minh được đại diện Ban ấp V cho biết, ông N và bà T khi mới cưới nhau sống tại địa phương, thỉnh thoảng cũng có cãi vả. Sau đó cả hai lên Bình Dương làm công nhân. Do có mâu thuẫn, năm 2015 thì bà T trở về sinh sống tại địa phương và gia đình bà T ngăn cản nên cả hai ly thân. Bà T và ông N chưa có con chung. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa ông N và bà T đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không h nh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông N không có con chung, nên không đặt vấn đề giải quyết quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Tuy nhiên, nếu ông N có tài liệu, chứng cứ chứng minh là có tài sản chung hoặc nợ chung thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

[4] Về chi ph tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án không phát sinh chi phí tố tụng, nên các đương sự không phải chịu.

Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm;

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 9, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ các điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Bích T,

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Bích T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc N.

2/ Về án phí : Bà Võ Thị Bích T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011433 ngày 15/7/2019. Bà T đã nộp đủ.

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

Án tuyên công khai, các đương sự đều vắng mặt, thời hạn kháng cáo của bà Võ Thị Bích T và ông Nguyễn ngọc N là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

Giấy chứng nhận kết hôn số 115 ngày 29/9/2011 do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp cho bà Võ Thị Bích T và ông Nguyễn Ngọc N không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

(Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 392/2019/HNGĐ-ST ngày 04/10/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

Số hiệu:392/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Phú - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 04/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về