Bản án 03/2017/HNGĐ-ST ngày 07/09/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K – TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 03/2017/HNGĐ-ST NGÀY 07/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 07 tháng 9 năm 2017; tại  trụ sở Tòa án nhân dân huyện K – tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 57/2017/TLST - HNGĐ ngày 25/4/2017 về việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04 /2017/QĐXX-ST ngày 24/7/2017 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Anh Bùi Văn D, sinh năm 1985;Trú tại:   xóm S, xã H, huyện K, tỉnh Hòa Bình;Có mặt

2/ Bị đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1985; Trú tại: xóm Đ , xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình ( Vắng mặt lần hai không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 25 tháng 4 năm 2017 nguyên đơn là Anh Bùi Văn D trình bày: giữa nguyên đơn và bị đơn là chị Bùi Thị H tự tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 02 tháng 5 năm 2005. Trong quá trình chung sống, thời kỳ đầu vợ chồng chung sống hòa thuận có 01 con chung. Sau đó thường xuyên mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Anh chị đã ly thân 3 năm nay hai bên không còn quan tâm đến nhau. Từ tháng 1 năm 2014 chị H đi làm thuê ở khu vực gần nhà, hàng tháng có về nhà thăm con rồi lại bỏ đi, không cho anh biết địa chỉ. Do tình trạng hôn nhân mâu thuẫn ngày một trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết, nên anh D  yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi giải quyết:

Về quan hệ vợ chồng: Anh Bùi Văn D yêu cầu được ly hôn với chị Bùi Thị H

Về con chung: Anh chị có một con chung là Bùi Thị Thảo D, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2006. Sau ly hôn anh D yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Không yêu cầu chị Bùi Thị H cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung, công nợ chung:  Anh Bùi Văn Dkhông yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án số 57 ngày 25/4/2017.Giấy triệu tập số 205 ngày 26/4/2017. Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số 57 ngày 10/5/2017. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04 ngày 24/7/2017. Quyết định hoãn phiên tòa số 04 ngày 23/8/2017. Giấy triệu tập phiên tòa lần II  ngày 23/8/2017 đối với bị đơn Bùi Thị H, Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi đều tiến hành lập Biên bản không tống đạt được, Biên bản niêm yết tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã và tại nơi cư trú của bị đơn, Biên bản niêm yết tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi. Bị đơn Bùi Thị H hàng tháng có về địa phương, biết việc Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi niêm yết các thủ tục, giấy tờ nhưng không chấp hành, không đến Tòa án để làm việc, tự tước bỏ quyền và lợi ích của mình.

Tại phiên tòa ngày hôm nay Nguyên đơn, Kiểm sát viên không đề nghị hoãn phiên tòa. Căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sựLuật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quá  tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

1/ Về quan hệ vợ chồng:  Anh Bùi Văn Dvà chị Bùi Thị H tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 02/5/2005. Như vậy Anh D và chị H đã phát sinh quan hệ hôn nhân và gia đình, là vợ chồng hợp pháp theo Luật hôn nhân và gia đình.

Trong quá trình chung sống, thời kỳ đầu vợ chồng chung sống hòa thuận có 01 con chung. Sau đó thường xuyên mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Anh chị đã ly thân  3 năm nay hai bên không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay chị H đi làm thuê ở khu vực gần nhà, hàng tháng có về nhà thăm con rồi lại bỏ đi, không cho anh biết địa chỉ.

Từ các căn cứ nêu trên nên cho thấy chị H đã cố tình dấu diếm địa chỉ, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Bùi Văn Dvới chị Bùi Thị H. Xử cho anh Bùi Văn D được ly hôn với chị Bùi Thị H theo quy định tại Điều 51, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

2/ Về con chung: Anh Bùi Văn Dvà chị Bùi Thị H có 1 con chung: Bùi Thị Thảo D, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2006. Sau ly hôn anh Bùi Văn Dcó yêu cầu nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc con. Không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, anh D có công việc làm ổn định, có thu nhập, có nhà ở, có đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, nên chấp thuận yêu cầu của anh D. Hội đồng xét xử giao cháu Bùi Thị Thảo D cho anh Bùi Văn Dtrực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Chị Bùi Thị H có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở.

3/ Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Bùi Văn Dkhông yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị đơn chị Bùi Thị H không có yêu cầu gì nên Tòa không xét

4/ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Bùi Văn Dphải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sang thành án phí cho anh D, theo biên lai thu số:0002748 anh D nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bôi ngày 25/4/2017. theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự  và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân  và  gia  đình;  Điều  147  Bộ  luật  tố  tụng  dân  sự     và  Nghị  quyết  số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Hội đồng xét xử chấp thuận yêu cầu xin  ly hôn giữa anh Bùi Văn Dvà chị Bùi Thị H

Tuyên xử:

1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Bùi Văn D được ly hôn với chị Bùi Thị H

2/ Về con chung:

Xử: Giao cho anh Bùi Văn D chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục  con chung là:

Cháu Bùi Thị Thảo D, sinh ngày 07 tháng 03 năm 2006. Chị Bùi Thị H được quyềnđi lại thăm nuôi con chung.

3/ Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Anh Bùi Văn Dphải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sang thành án phí cho anh D, theo biên lai thu số:0002748 anh D nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bôi ngày 25/4/2017.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án và niêm yết bản án.

Án xử công khai sơ thẩm!


102
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2017/HNGĐ-ST ngày 07/09/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:03/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kim Bôi - Hoà Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 07/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về