Bản án 39/2019/HNGĐ-ST ngày 16/10/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 39/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH LY HÔN

Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thùy L, sinh năm: 1978. Địa chỉ cư trú: XX, tổ XX, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Lê Tấn N, sinh năm: 1986. Địa chỉ cư trú: ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29-7-2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Thùy L trình bày:

Chị và anh N tự tìm hiểu sống chung với nhau vào năm 2015 đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại UBND thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng ít sống chung với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày, anh N còn đam mê cờ bạc. Chị và anh N ly thân từ tháng 4-2019 đến nay. Thời gian ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Tấn N.

Về con chung: Chị và anh Ngon có một con chung tên Lê Ánh X, sinh ngày XXX. Hiện tại cháu X đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh N không có nợ ai.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 19-8-2019, bị đơn anh N đã trình bày:

Về cơ sở hôn nhân, thời gian đăng ký kết hôn, nơi đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung và nợ chung như lời trình bày của chị L. Anh và chị L xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được nên anh đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu Lê Ánh X, sinh ngày XXX cho chị L nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: anh và chị L không có nợ ai.

Ngày 01-10-2019 anh N có đơn xin vắng mặt tại tòa. Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án; việc cấp tống đạt văn bản tố tụng và việc tuân thủ quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh N.

Về con chung: giao cháu Lê Ánh X, sinh ngày XXX cho chị L nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị L và N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thùy L phải chịu tiền án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Chị L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh N, anh N có địa chỉ cư trú tại huyện B, tỉnh Tây Ninh nên Tòa án nhân dân huyện B thụ lý và giải quyết là đúng theo qui định tại Điều 28, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, anh N đã có đơn xin xét xử vắng mặt, áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N.

[2] Về hôn nhân: Chị L và anh N kết hôn vào năm 2016, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 0182/2016 ngày 12-11-2016 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị L và anh N phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống trong sinh hoạt hàng ngày, anh N còn đam mê cờ bạc, mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cải vã nhau. Chị L đã dọn về nhà cha mẹ ruột sinh sống, chị và anh N ly thân từ tháng 4-2019 đến nay, vợ chồng không hàn gắn, đoàn tụ được. Anh N cũng đồng ý ly hôn với chị L. Do đó, thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh N đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh N là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị L và anh Ncó một con chung tên Lê Ánh X, sinh ngày XXX. Chị L và anh N thống nhất giao cháu X cho chị L nuôi dưỡng. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L, anh N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Lê Thùy L phải chịu án phí theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 BLTTDS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thùy L đối với anh Lê Tấn N. Chị L được ly hôn với anh N.

2. Về con chung: Giao con chung Lê Ánh X, sinh ngày XXX cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị L, anh N trình bày không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0022087 ngày 30-7-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Anh Lê Tấn N không phải chịu án phí.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Lê Thùy L có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Tấn N có quyền kháng lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2019/HNGĐ-ST ngày 16/10/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn

Số hiệu:39/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Cầu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về