Bản án 39/2017/HNGĐ-PT ngày 01/09/2017 về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 39/2017/HNGĐ-PT NGÀY 01/09/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, CHIA TÀI SẢN CHUNG

 

Vào các ngày 04, 10 tháng 4 và ngày 01 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2017/TLPT-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2017, về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung.

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 89/2016/HNGĐ-ST ngày 18/11/2016, của Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh b kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2017/QĐ-PT ngày 03 tháng 3 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Quách V, sinh năm 1955; cư trú tại: Số V1, ấp V2, xã V3, huyện V4, tỉnh Tây Ninh; có m t.

Người đại diện theo ủy quyền của ông V: Ông Đ ng Thành D, sinh năm 1960; cư trú tại: Tổ D1, ấp D2, xã D3, huyện D4, tỉnh Tây Ninh; theo Hợp đồng ủy quyền ngày 31 tháng 8 năm 2017; có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Th N, sinh năm 1962; cư trú tại: Số V1, ấp V2, xã V3, huyện V4, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1976; cư trú tại: Số S1, hẻm S2, đường S3, khu phố S4, Phường S5, thành phố S6, tỉnh Tây Ninh; theo văn bản ủy quyền ngày 06 tháng 10 năm 2016; có mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Quách Thủy L, sinh năm 1984; cư trú tại: Số L1, đường L2, khu phố L3, th trấn L4, huyện L5, tỉnh Tây Ninh; có mặt;

2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969; cư trú tại: Số Đ1, khu phố S4, th trấn Đ2, huyện D4, tỉnh Tây Ninh; yêu cầu xét xử vắng mặt;

3. Bà Nguyễn Th B, sinh năm 1971; cư trú tại: Số B1, tổ B2, khu phố S4, th trấn Đ2, huyện D4, tỉnh Tây Ninh; yêu cầu xét xử vắng mặt;

4. Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1956; cư trú tại: Tổ A1, ấp A2, xã A3, huyện D4, tỉnh Tây Ninh; yêu cầu xét xử vắng m t;

5. Bà Nguyễn Th T, sinh năm 1975; cư trú tại: Số T1, khu phố T2, th trấn L4, huyện L5, tỉnh Tây Ninh; yêu cầu xét xử vắng m t;

6. Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT. Đ a chỉ trụ sở: Ấp 2, xã Suối Ngô, huyện D4, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng X– Chức vụ: Giám đốc Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT.

Người đại diện theo ủy quyền của ông X: Ông Tr nh Thanh Y- Cán bộ Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT, theo Giấy ủy quyền ngày 11 tháng 5 năm 2017; yêu cầu xét xử vắng m t.

- Người kháng cáo: Ông Quách V là nguyên đơn và bà Nguyễn Th N là bị đơn.

 

 

NỘI DUNG VỤ ÁN

 

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 8 năm 2013 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn - ông Quách V trình bày:

Ông và bà Nguyễn Th N kết hôn vào năm 1981, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 22 tháng 4 năm 1996. Vợ ch ng sống hạnh phúc đến năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đ ng quan điểm sống, vợ ch ng không tôn trọng nhau, thường xuyên gây gổ, bà N không nghe lời ông, mọi việc trong gia đình bà N tự quyền quyết đ nh, đã sống ly thân từ năm 2005 đến nay, tình cảm vợ ch ng không còn, ông yêu cầu ly hôn với bà N.

Con chung có 03 người g m: Quách Thủy E, sinh năm 1982; Quách Thủy L, sinh năm 1984 và Quách Đại R, sinh năm 1988, các con đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung gồm có:

- Một nhà cấp 2 xây trên diện tích đất 150,7 m2, thửa 454; một nhà cấp 4C xây trên diện tích đất 152,3 m2, thửa 445; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà do bà N đứng tên, tọa lạc tại ấp V2, xã V3, huyện V4, tỉnh Tây Ninh.

- 01 chiếc xe ô-tô hiệu Toyota Fortuner, biển số 70A – 3372.

- 01 chiếc xe máy cày hiệu Ford.

- Cao su trên phần đất diện tích 197.645,5 m2, tọa lạc tại ấp C1, xã C2, huyện L5, đất thuộc khu vực vành đai biên giới, không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Cây cao su trên phần đất diện tích 311.128,1 m2, tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, tỉnh Tây Ninh, đất thuộc dự án rừng phòng hộ DT, không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông và bà N hợp đang trồng rừng.

- 400.000.000 đ ng tiền cho thuê đất tr ng mì ở ấp C1, xã C2, huyện L5 vào năm 2012, 2013.

Nhà cấp 4C ông đang sử dụng, các tài sản khác bà N đang sử dụng.

Nguồn gốc tài sản là từ tiền kinh doanh tiệm tiện và tiền, vàng vợ ch ng dành dụm được. Từ khoảng năm 1995, 1996, vợ ch ng mua đất làm rẫy, đầu tiên là mua 20 ha ở Đ ng P, giá 1,8 lượng vàng/ha, làm rẫy được 05 năm thì bán với giá 07 lượng vàng/ha, mua 22 ha đất ở ngã ba U và tr ng mía, sau đó bán đất này mua 20 ha của ông Tân (là đất cao su ở D4 hiện nay). Ngoài ra, còn mua 22 ha đất ở Vạc G, tr ng mía được vài năm thì bà N tự bán phần đất này.

cao su mà hiện nay có được là do mua, bán đất có lãi cộng với tiền thu hoạch mì, mía. Năm 2004, bắt đầu tr ng cao su khoảng 20 ha, tr ng dần đến 03 năm sau thì được hơn 50 ha, bà N tự thu hoạch mủ, không cho ông thu hoạch.

Ông yêu cầu chia đôi tài sản chung, yêu cầu được chia bằng hiện vật g m: nhà cấp 4C, cao su ở ấp C1, xã C2, huyện L5, cao su ở ấp A2, xã A3, huyện D4. Chia cho bà N các tài sản còn lại, ông thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản.

Đất trồng cao su chưa được cấp giấy chứng nhận, thuộc đất Nhà nước quy hoạch nên ông và bà N không yêu cầu chia, chỉ chia cao su trên đất, phần đất có cao su của ai được chia nếu sau này được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người đó được sở hữu.

Đối với các tài sản gồm:

- Cửa hàng tiện xoáy Minh V nằm trên đất thuộc diện giải tỏa nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Diện tích 08 ha đất rừng ở ấp A2, xã A3, huyện D4;

- Diện tích 91.685,3 m2 đất bán ngập, ông Nguyễn Văn A đang quản lý, sử dụng;

- Diện tích 11.787,7 m2 đất cao su, tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4 do chị Quách Thủy L đang sử dụng;

- Tiền thu hoạch mủ cao su từ năm 2009 đến nay.

Ông có khởi kiện nhưng đã rút yêu cầu để ông và bà N tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Nợ chung: Không có.

Bà N khai có nợ bà Nguyễn Th B và ông Nguyễn Văn Đ tiền và vàng, giá tr hơn 05 tỷ đ ng, ông không chấp nhận vì không có thật, bà B và ông Đ là em ruột của bà N, họ không có khả năng cho vay số tiền lớn, bà N cũng không mua sắm hay chi tiêu gì cho gia đình số tiền lớn như thế, nếu bà N khai thì tự trả, ông không chấp nhận là nợ chung.

Bị đơn – bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà thống nhất với lời trình bày của ông V về quan hệ hôn nhân, vợ ch ng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông V tính tình khó khăn, gia trưởng, đối xử tệ bạc với bà, vợ chồng ly thân và làm ăn riêng từ năm 2003, ông V sở hữu tiệm tiện, bà tự mua đất làm rẫy, sử dụng riêng, tình cảm vợ chồng không còn, bà chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của ông V.

Bà và ông V có 03 con chung là Quách Thủy E, Quách Thủy L, và Quách Đại R, các con đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung:

Bà thống nhất với ông V các tài sản gồm:

- Một nhà cấp 2, xây trên diện tích đất 150,7 m2; một nhà cấp 4C xây trên diện tích đất 152,3 m2, tọa lạc tại ấp V2, xã V3, huyện V4, tỉnh Tây Ninh.

- Xe ô-tô Toyota Fortuner, biển số 70A - 3372.

- Cao su trên phần đất diện tích 197.645,5 m2, tọa lạc tại ấp C1, xã C2, huyện L5.

- Cao su trên phần đất diện tích 311.128,1 m2, tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4.

Bà không thống nhất với ông V các tài sản g m: 400.000.000 đ ng tiền cho thuê đất tr ng mì tại ấp C1, xã C2, huyện L5 và xe máy cày, bởi vì:

Năm 2012, bà tr ng mì và bán lại mì non cho anh Tuấn H giá 220.000.000 đ ng, trong đó tiền vốn 100.000.000 đ ng, lợi nhuận thu được 120.000.000 đ ng đã đầu tư vào cao su. Năm 2013, bà cho anh I là người làm công mượn đất một năm để tr ng mì xem như trả tiền công cho anh I, anh I tự canh tác hay cho người khác thuê thì bà không biết, không có khoản tiền 400.000.000 đ ng cho thuê đất như ông V khai.

Xe máy cày mua giá 176.000.000 đ ng, sửa chữa 30.000.000 đ ng, tổng cộng là 206.000.000 đ ng, sau đó làm không hiệu quả nên đã bán lại cho một người Campuchia giá 150.000.000 đ ng, bán trước khi ông V nộp đơn ly hôn, bà đã sử dụng số tiền trên đầu tư vào cao su nên không còn.

Bà chấp nhận việc ông V rút yêu cầu khởi kiện đối với số tài sản ông V đã nêu như trên.

Bà và ông V có nợ chung như sau:

- Nợ em ruột bà là Nguyễn Th B tiền và vàng, bà sử dụng số tiền và vàng vay cụ thể như sau:

Ngày 03-9-2001, vay 25 lượng vàng 24 K 9999, tính thành tiền là 67.000.000 đ ng để mua đất của ông Quách O, số tiền này nhận làm 03 lần, bà nhận 02 lần, ông V nhận 01 lần, thỏa thuận lãi suất 15%/năm.

Ngày 04-3-2003, vay 400.000.000 đồng, lãi suất 15%/năm, vay của ông Nguyễn Văn M 650.000.000 đồng để mua đất và xây nhà, cụ thể như sau: Mua 19 ha đất ở ấp C1, xã C2 của anh Lê Văn Q3, 01 ha của một người không nhớ tên, với số tiền 700.000.000 đ ng (35.000.000 đ ng/ha); 04 ha đất ở ấp A2, xã A3, trong đó gồm: mua của ch Q4 1,8 ha, của vợ ch ng ông Y1, bà Y2 2,2 ha, với giá 140.000.000 đ ng (35.000.000 đ ng/ha); xây 02 căn nhà cấp 2 và cấp 4C trên phần đất tại ấp V2, xã V3 với số tiền 550.000.000 đồng.

Ngày 05-4-2004, vay 400.000.000 đ ng, lãi suất 15%/năm mua 1,2 ha đất của ông K2 với giá 45.600.000 đ ng; mua của ông K3 0,7 ha giá 26.600.000 đ ng; mua của ông Chàm K1 1,6 ha giá 60.800.000 đ ng; mua của ông Nguyễn Văn Đ 4,5 ha giá 405.000.000 đ ng; mua của ông Nguyễn Văn A 1,7 ha giá 136.000.000 đ ng. Tổng cộng là 9,7 ha đất với tổng số tiền là 674.000.000 đồng.

Ngày 06-3-2005, vay 700.000.000đ ng, lãi suất 15%/năm.

Ngày 25-5-2005, vay 25 lượng vàng SJC (nhận vàng bán được số tiền 110.000.000 đ ng) chi trả tiền vay cho ông Nguyễn Văn M 650.000.000 đông và 97.000.000 đông tiền lãi; trồng 12 ha cao su ở ấp A2, xã A3 hết 84.000.000 đồng, còn lại dùng chi phí sinh hoạt trong gia đình và nuôi con ăn học.

Ngày 08-02-2010, vay 1.000.000.000 đ ng, lãi suất 12%/năm, chi mua và sửa xe máy cày 206.000.000 đ ng; mua dàn máy tiện cho ông V 150.000.000 đồng, chăm sóc 36 ha cao su ở ấp A2, xã A3 và ấp C1, xã C2 216.000.000 đ ng; làm hàng rào của 50 ha cao su, đào mương thoát nước, làm đường nội đồng 600.000.000 đ ng, còn lại chi phí sinh hoạt trong gia đình.

- Nợ của em ruột là Nguyễn Văn Đ số tiền 1.000.000.000 đ ng vay ngày 17-11-2009, lãi suất 12%/năm, chi mua xe ô-tô 750.000.000 đ ng, chăm sóc 36 ha cao su 216.000.000 đ ng, đầu tư mở quán trà sữa cho con gái Quách Thủy L 200.000.000 đ ng, còn lại chi phí sinh hoạt trong gia đình. Tiền lãi đã trả đủ cho ông Đ đến tháng 11-2013.F

Tổng cộng nợ của bà B và ông Đ là 3.500.000.000 đ ng, 25 lượng vàng 24 K 9999 và 25 lượng vàng SJC. Khi vay bà có ghi giấy nợ, vì đã làm ăn riêng với ông V nên không yêu cầu ông V ký nhận nợ. Nếu xác đ nh đất cao su là tài sản chung của vợ chồng thì yêu cầu ông V cùng liên đới trả nợ, nếu xác định là tài sản riêng của bà thì không yêu cầu ông V liên đới trả.

Ngoài ra, bà còn nợ bà Nguyễn Th T 2.000.000.000 đ ng, bà trả dần bằng cách trừ vào tiền mủ cao su bán cho bà T nên bà T không khởi kiện, bà cũng không yêu cầu giải quyết; nợ Ngân hàng vợ chồng cùng vay nhưng bà đã trả xong.

Khi ly hôn bà yêu cầu: Lấy tài sản chung trừ đi phần nợ chung còn lại chia theo công sức đóng góp, bà 07 phần, ông V 03 phần. Bà yêu cầu được chia hiện vật là căn nhà cấp 2, xe ô-tô, toàn bộ cao su ở D4 và L5; chia cho ông V nhà cấp 4C mà ông V đang quản lý, bà thanh toán lại phần giá tr chênh lệch.

Bà thống nhất với ông V là đất tr ng cao su chưa được cấp giấy chứng nhận, thuộc đất Nhà nước quy hoạch nên không chia, chỉ chia theo diện tích cao su trên đất, phần đất có cao su của ai được chia nếu sau này được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người đó được sở hữu.

Ngưi đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N – Ông Nguyễn Văn S trình bày: Thống nhất theo nội dung trình bày của bà N về tài sản chung và nợ chung.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà là em ruột của bà N. Bà thống nhất theo lời trình bày của bà N về thời gian cho vay, số tiền vay, lãi suất vay và mục đích vay. Từ năm 2001 đến năm 2010, bà cho bà N, ông V vay nhiều lần với tổng số tiền 2.500.000.000 đ ng và 25 lượng vàng 24 K 9999, 25 lượng vàng SJC. Tất cả các lần vay bà N đều viết giấy nợ và ký tên, lãi suất thỏa thuận là 12%/năm đối với tiền, vàng không tính lãi; khi vay không thỏa thuận thời hạn trả, không thế chấp tài sản. Lãi tiền vay bà N đã trả đến năm 2013. Từ cuối năm 2013 đến nay do ông V kiện ly hôn nên bà N không trả lãi.

Bà yêu cầu ông V, bà N cùng liên đới trả 2.500.000.000 đ ng và 25 lượng vàng 24 K 9999, 25 lượng vàng SJC, không yêu cầu trả lãi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông là em ruột của bà N. Ngày 17-11-2009, ông cho bà N vay số tiền 1.000.000.000 đ ng để mua xe ô-tô và làm ăn, giấy nợ bà N tự viết và ký tên, vay không thỏa thuận thời hạn trả, không thế chấp tài sản, thỏa thuận lãi suất 12%/năm, bà N trả lãi đầy đủ đến năm 2013. Từ cuối năm 2013 đến nay không trả lãi. Ông yêu cầu bà N và ông V cùng liên đới trả cho ông 1.000.000.000 đ ng tiền vay gốc, không yêu cầu trả lãi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Quách Thủy L trình bày:

Chị là con ruột của bà N và ông V. Năm 2010, bà N chuyển nhượng cho ch phần đất diện tích 11.787,7 m2, giáp ranh với đất cao su của bà N tại ấp A2, xã A3, huyện D4, với giá 50.000.000 đồng, khi chuyển nhượng đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng, sau này ch kê khai đăng ký nhưng do ông V tranh chấp với bà N phần đất này nên Ủy ban nhân dân huyện D4 chưa giao giấy chứng nhận cho ch . Ông V yêu cầu chia với bà N, ch không chấp nhận vì đất đã là tài sản của ch , không phải là tài sản chung của bà N và ông V. Ông V rút lại yêu cầu khởi kiện đối với phần đất này, chị chấp nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Văn A trình bày:

Ông là chú ruột của bà N. Vào năm 2011, ông có nhận chuyển nhượng của bà N khoảng 08 ha đất bán ngập tại ấp A2, xã A3, huyện D4 với giá 128.000.000 đ ng (16.000.000 đ ng/ha). Do đây là đất bán ngập, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chỉ chuyển nhượng bằng giấy tay, có Trưởng ấp A2 ký xác nhận, ông đã trả đủ tiền, bà N đã giao đất cho ông sử dụng từ năm 2011, không phải là tài sản chung của bà N, ông V. Nếu ông V yêu cầu chia với bà N thì phải trả cho ông bằng giá tr . Ông V đã tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện đối với phần đất này, ông chấp nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà là người thu mua mủ cao su của bà N từ năm 2011 đến nay, bà N có vay tiền của bà và trả dần bằng cách trừ vào tiền mủ cao su, do bà vẫn đang thu mua mủ cao su của bà N và trừ nợ nên hai bên không tranh chấp. Bà N và ông V ly hôn, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết số tiền bà N đã vay.

Ông Trịnh Thanh Y là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT trình bày:

Phần đất diện tích 322.915,8 m2, tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, tỉnh Tây Ninh mà ông V và bà N đang tranh chấp, nằm trong quy hoạch đất lâm nghiệp do Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT quản lý, giao cho hộ gia đình ông Quách V, bà Nguyễn Th N hợp đồng để trồng rừng, trong đó gồm rừng phòng hộ và rừng sản xuất, cụ thể như sau:

- Diện tích 300.419,9 m2 nằm trong quy hoạch rừng sản xuất, thuộc Khu rừng phòng hộ DT, g m các thửa: 63, 84, 106, 108, 117, tờ bản đ số 5, tiểu khu 53;

- Diện tích 22.497,9 m2 nằm trong quy hoạch rừng phòng hộ, thuộc Khu rừng phòng hộ DT, g m các thửa: 117, 118, tờ bản đ số 5, tiểu khu 53. Trong đó có phần diện tích đất 9.973,7 m2 là phần 50% diện tích tr ng cây cao su của mô hình rừng tr ng DCs3 (50% diện tích tr ng cây cao su, 50% diện tích tr ng cây sao, dầu), thuộc lô q, r khoảnh 1, tiểu khu 53, rừng tr ng năm 2010.

Đối với phần diện tích rừng phòng hộ đã ký hợp đ ng, phần diện tích rừng sản xuất chưa ký hợp đồng trên giấy tờ nhưng thực tế hộ bà N đã thực hiện đúng theo thỏa thuận.

Ông V, bà N được phép chia hợp đ ng, sang nhượng hợp đ ng tr ng rừng nếu có yêu cầu. Riêng đối với phần đất diện tích 9.973,7 m2 là một phần của mô hình tr ng rừng DCs3 nên khi chia hợp đ ng phải chia ranh phần đất này theo hướng Bắc – Nam và phải bảo đảm sau khi chia thì diện tích đất có cây cao su và diện tích đất có cây sao, cây dầu tương đương nhau.

Đất và tài sản trên đất tranh chấp qua thẩm định, định giá như sau:

- Đất thổ cư diện tích 169 m2 (diện tích hiện trạng là 172,3 m2, diện tích đã trừ lộ giới là 152,3 m2), thuộc thửa 445, tờ bản đ số 05, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02381/QSDĐ/2237/XN-UB (HL) ngày 11-7-2003. Trị giá 970.000.000 đồng.

Tài sản trên đất gồm có nhà cấp 4C, tr giá 44.400.000 đ ng; mái che trị giá 28.800.000 đồng.

- Đất thổ cư diện tích 180 m2 (diện tích hiện trạng là 168,7 m2, diện tích đã trừ lộ giới là 150,7 m2), thuộc thửa 750, tờ bản đ số 01 (thửa mới 454, tờ bản đ số 05), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01348/QSDĐ/D12 ngày 17-8-1993. Tr giá 1.030.000.000 đồng.

Tài sản trên đất gồm có nhà cấp 2, tr giá 742.352.000 đồng; mái che trị giá 8.522.800 đồng.

- 01 chiếc xe ô-tô hiệu Toyota Fortuner, tr giá 450.000.000 đồng.

- 2.475 cây cao su 07 năm tuổi trên phần đất diện tích 55.545,3 m2 và 7.250 cây cao su 02 năm tuổi trên phần đất diện tích 142.100,2 m2 (tính tại thời điểm ngày 30-5-2014), đất tọa lạc tại ấp C1, xã C2, huyện L5. Tr giá cây cao su:742.500.000 đ ng + 870.000.000 đ ng = 1.612.500.000 đồng.

- Cây cao su trên phần đất tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, tỉnh Tây Ninh, Tòa án cấp sơ thẩm thẩm định diện tích 311.128,1 m2 (450 cây/ha), tr giá cao su 4.200.229.350 đồng; trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bà N yêu cầu thẩm định lại kết quả thẩm định diện tích 312.217 m2 (450 cây/ha), tr giá cao su 4.214.928.000 đồng.

Ngoài ra còn có các tài sản sau đây, ông V và bà N đã thống nhất là tài sản chung gồm: Tiền bán xe máy cày 176.000.000 đồng, tiền cho thuê đất 220.000.000 đồng.

Vật dụng trong nhà ông V, bà N không tranh chấp, không yêu cầu đ nh giá. Tổng tr giá tài sản chung là 9.497.502.800 đồng.

Bản án sơ thẩm số: 89/2016/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 11 năm 2016, của

Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành quyết định:

Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Quách V và bà Nguyễn Th N.

Về con chung: Đã thành niên nên Tòa án không đ t ra giải quyết.

Về tài sản chung: Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản chung của ông Quách V đối với bà Nguyễn Th N.

Ông V được quyền quản lý, sử dụng:

+ Phần đất thuộc thửa 445 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 4C, mái che, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02381/QSDĐ/2237/XN-UB (HL) ngày 11-7-2003, tọa lạc tại ấp V2, xã V3, huyện V4.

+ Ông V được quyền sở hữu cây cao su trên phần đất diện tích 197.645,5 m2, tọa lạc ấp C1, xã C2, huyện L5, tỉnh Tây Ninh.

Bà N được quyền quản lý, sử dụng:

+ Phần đất thuộc thửa 454 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất (nhà cấp 2, mái che), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01348/QSDĐ/D12 ngày 17-8-1993, tọa lạc tại ấp V2, xã V3, huyện V4.

Bà N được quyền sở hữu:

+ 01 chiếc xe ô-tô hiệu Toyota Fortuner;

+ Toàn bộ cây cao su trên phần đất diện tích 311.128,1 m2, tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, tỉnh Tây Ninh.

Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Quách V đối với các tài sản gồm:

- Cửa hàng tiện xoáy Minh V;

- 08 ha đất tr ng rừng ở ấp A2, xã A3, huyện D4, bà N đang quản lý;

- Diện tích 91.685,3 m2 đất bán ngập do ông Nguyễn Văn A đang quản lý sử dụng;

- Diện tích 11.787,7 m2 và toàn bộ cây cao su trên đất tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, ch Quách Thủy L đang quản lý;

- Tiền mủ cao su bà N thu hoạch từ năm 2009 cho đến nay.

Ông Quách V có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đối với các tài sản nêu trên.

Về nợ chung:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Th B, ông NguyễnVăn Đ đối với ông Quách V và bà Nguyễn Th N.

Buộc bà Nguyễn Th N phải trả cho bà Nguyễn Th B số tiền 2.500.000.000 đ ng, 25 lượng vàng 24 K và 25 lượng vàng SJC.

Buộc ông Quách V phải trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 1.000.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí; chi phí đo đạc, định giá.

Ngày 01 tháng 12 năm 2016, ông V kháng cáo, không thừa nhận số nợ 3.500.000.000 đồng, 25 lượng vàng 24 K 9999 và 25 lượng vàng SJC là nợ chung vì ông cho rằng không có thật, bà N vay số tiền lớn mà không báo với ông, đối với khoản nợ vay này thì tạo được một số tài sản rất lớn vì đất lúc đó rất rẻ, không phải như khối tài sản hiện có. M t khác, ông Đ, bà B thực tế không có khả năng cho vay số tiền và số vàng như bà N khai.

Ngày 01 tháng 12 năm 2016, bà N kháng cáo yêu cầu giải quyết lại về phần chia tài sản, chia cho bà được hưởng 07 phần, ông V 03 phần vì bà là người làm ra tài sản, ông V không có đóng góp gì, bản án sơ thẩm chia như thế là thiệt thòi cho bà. Bà yêu cầu được sở hữu cao su ở L5, yêu cầu chia cho ông V được sở hữu cao su ở D4 với diện tích tương đương giá tr cao su ở L5 mà ông V đã được chia theo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Ông Quách V trình bày: Nếu bà N yêu cầu đổi đất cao su thì phải đổi cho ông phần cao su ở D4 bằng diện tích cao su ở L5 vì cao su ở L5 có 7.250 cây 02 năm tuổi tại thời điểm đ nh giá (ngày 30-5-2014) giá tr 120.000 đ ng/cây. Tính đến nay, cao su đã 05 năm tuổi, giá tr tương đương giá tr cao su ở D4 nên ông yêu cầu đổi theo diện tích đất, nếu đổi theo giá tr cây cao su thì ông b thiệt thòi rất nhiều. Ông chấp nhận nợ của ông Đ và bà B là nợ chung của ông và bà N với điều kiện ngoài việc đổi đất cao su ra, các vấn đề khác phải giữ nguyên như bản án sơ thẩm.

+ Người đại diện theo ủy quyền của ông V là ông Đ ng Thành D thống nhất theo ý kiến trình bày của ông V tại phiên tòa phúc thẩm về tài sản chung và nợ chung.

+ Bà N và người đại diện theo ủy quyền của bà N là ông Nguyễn Văn S chấp nhận theo điều kiện ông V đặt ra.

Ông V và bà N đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau:

1. Về tài sản chung:

- Ông V được sử dụng, sở hữu các tài sản gồm:

Sử dụng diện tích 172,3 m2 đất thổ cư, tọa lạc tại ấp V2, xã V3, huyện V4, thuộc thửa 445, tờ bản đ số 05, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02381/QSDĐ/2237/XN-UB (HL) ngày 11-7-2003.

Sở hữu tài sản trên đất là nhà cấp 4C, mái che.

Sở hữu cây cao su trên phần đất diện tích 197.644,5 m2, tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, tỉnh Tây Ninh, g m các thửa: 69/82.265,7 m2, 84/29.067,2 m2, 104/31.886,4 m2, 114/18.763,7 m2, 125/13.135,4 m2, 147/8.829,4 m2, 70-1/4.268,5 m2; tờ bản đ số 09 và thửa 23/9.428,2 m2, tờ bản đ số 08. Ông V được tiếp tục hợp đ ng với Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT đối với diện tích 197.644,5 m2 đất này. Nếu sau này ông V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà N không được tranh chấp.

- Bà N được sử dụng, sở hữu các tài sản gồm:

Được sử dụng diện tích 168,7 m2 đất thổ cư, tọa lạc tại ấp V2, xã V3, huyện V4, thuộc thửa 454, tờ bản đ số 05, tương ứng với thửa 750, tờ bản đ số 1, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01348/QSDĐ/D12 ngày 17-8-1993.

Sở hữu tài sản trên đất là nhà cấp 2, mái che.

Sở hữu cây cao su trên diện tích đất 114.572,5 m2, thửa 70-2, tờ bản đồ số 09, tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, tỉnh Tây Ninh. Bà N được tiếp tục hợp đ ng với Ban quản lý Khu rừng phòng hộ tiếng đối với diện tích 114.572,5 m2 đất này. Nếu sau này bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông V không được tranh chấp.

Sở hữu cây cao su trên phần đất diện tích 197.645,5 m2, tọa lạc tại ấp C1, xã C2, huyện L5. Nếu sau này bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông V không được tranh chấp.

Sở hữu 01 chiếc xe ô-tô hiệu Toyota Fortuner, biển số 70A – 3372; sở hữu 220.000.000 đồng cho thuê đất, 176.000.000 đ ng tiền bán xe máy cày.

2. Về nợ chung:

- Ông V phải trả cho ông Đ 1.000.000.000 đồng.

- Bà N phải trả cho bà B 2.500.000.000 đồng; 25 lượng vàng 24 K 9999; 25 lượng vàng SJC.

Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục giải quyết vụ án theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự; trong quá trình tham gia tố tụng, các đương sự đã chấp hành đúng theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ông V và bà N đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm, sự thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đề ngh Hội đ ng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.

 

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Phần đất cao su tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4 là đất thuộc quy hoạch rừng phòng hộ, do Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT quản lý, ông V bà N hợp đ ng tr ng rừng và chỉ được chia hợp đ ng theo quy đ nh của Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT vào tham gia tố tụng là bỏ sót người tham gia tố tụng, vi phạm khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vi phạm này đã được khắc phục ở giai đoạn xét xử phúc thẩm nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm cần phải rút kinh nghiệm.

[2] Về xác định giá trị tài sản đối với đất thổ cư tọa lạc tại ấp V2, xã V3, huyện V4 thì: Biên bản về việc đo đạc, định giá tài sản ngày 13-3-2014, ghi giá đất là 200.000.000 đ ng/m ngang, là mét ngang m t tiền hướng Đông giáp đường K. Thửa 454 có chiều ngang m t tiền là 5,15 m, tr giá 1.030.000.000 đ ng nhưng bản án sơ thẩm lại ghi là 995.000.000 đ ng; thửa 445 có chiều Ngang mặt tiền là 4,85 m, tr giá 970.000.000 đ ng nhưng bản án sơ thẩm ghi 1.005.000.000 đồng là không đúng, ảnh hưởng đến giá trị tài sản chung phải chia nên cần phải sửa bản án sơ thẩm.

[3] Về chia tài sản chung, ông V và bà N đã thỏa thuận được tại phiên tòa phúc thẩm, sự thỏa thuận của họ là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, việc chia cao su theo thỏa thuận của ông V và bà N phù hợp với quy cách chia theo hợp đồng mà Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT quy đ nh. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, công nhận sự thỏa thuận của ông V và bà N tại phiên tòa phúc thẩm.

[4] Về nợ chung: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông V thống nhất với bà N về số tiền và vàng nợ ông Đ, bà B là nợ chung của vợ ch ng, ông V chấp nhận trả cho ông Đ 1.000.000.000 đ ng, bà N trả cho bà B 2.500.000.000 đồng, 25 lượng vàng 24 K 9999, 25 lượng vàng SJC như bản án sơ thẩm đã quyết định và ông Đ, bà B  không kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận.

[5] Về chi phí đo đạc, định giá: Ông V tự nguyện chịu 36.500.000 đồng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm; bà N tự nguyện chịu 16.100.000 đ ng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, đã nộp xong nên ghi nhận.

[6] Về án phí sơ thẩm: Ông V, bà N không tự thỏa thuận được nên Hội đ ng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định về án phí sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại Điều 27 của Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án thì ông V và bà N phải ch u án phí sơ thẩm như sau:

- Án phí đối với yêu cầu ly hôn: Ông V phải chịu 200.000 đồng.

- Án phí chia tài sản:

+ Tổng giá tr tài sản ông V được chia là 3.711.400.000 đồng, trừ 1.000.000.000 đ ng tiền nợ phải trả cho ông Đ, còn lại 2.711.400.000 đồng. Án phí ông V phải chịu là: 72.000.000 đồng + 14.228.000 đồng (2% của phần giá trị tài sản vượt quá 2.000.000.000 đ ng) = 86.228.000 đồng (tám mươi sáu triệu hai trăm hai mươi tám nghìn) đồng.

+ Tổng giá trị tài sản bà N được chia là 5.786.102.800 đ ng, trừ tổng giá tr số nợ phải trả cho bà B 4.228.975.000 đồng, giá tr còn lại là 1.557.127.800 đồng. Án phí bà N phải chịu là: 36.000.000 đồng + 22.714.000 đ ng (3% của phần giá tr tài sản vượt quá 800.000.000 đồng) = 58.714.000 đồng (năm mươi tám triệu bảy trăm mười bốn nghìn) đồng.

- Án phí đối với nghĩa vụ trả nợ: Tổng số nợ chung là 5.228.975.000 đồng, nên án phí là 112.000.000 đồng + 1.229.000 đ ng (0,1% của phần giá trị tài sản vượt quá 4.000.000.000 đ ng) = 113.229.000 đồng. Chia đôi, ông V và bà N mỗi người phải chịu 56.614.500 (năm mươi sáu triệu sáu trăm mười bốn nghìn năm trăm) đồng.

[7] Án phí phúc thẩm: Ông V và bà N mỗi người phải ch u 300.000 đ ng theo quy đ nh tại khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy đ nh về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án; khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Sửa Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 89/2016/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 11 năm 2016, của Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Quách V đối với bà Nguyễn Th N về việc chia các tài sản gồm:

- Cửa hàng tiện xoáy Minh V nằm trên phần đất thuộc diện giải tỏa, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- 08 ha đất trồng rừng, tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, bà N đang quản lý;

- Diện tích 91.685,3 m2 đất bán ngập do ông Nguyễn Văn A đang quản lý;

- Diện tích 11.787,7 m2 đất và cây cao su trên đất tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, ch Quách Thủy L đang quản lý;

- Tiền mủ cao su bà N thu hoạch từ năm 2009 cho đến nay. Ông V được quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

3. Công nhận sự thuận tình ly hôn của ông Quách V và bà Nguyễn Th N.

4. Công nhận sự thỏa thuận của ông Quách V, bà Nguyễn Th N về những vấn đề sau:

4.1. Về con chung: Có 03 người g m: Quách Thủy E, Quách Thủy L, Quách Đại R, đã thành niên, có khả năng tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.2. Về tài sản chung:

4.2.1. Ông Quách V được sử dụng, sở hữu các tài sản gồm:

Sử dụng diện tích 172,3 m2 đất thổ cư, tọa lạc tại ấp V2, xã V3, huyện V4, tỉnh Tây Ninh, thuộc thửa 445, tờ bản đ số 05, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02381/QSDĐ/2237/XN-UB (HL) ngày 11-7-2003, do Ủy ban nhân dân huyện V4 cấp, bà Nguyễn Th N đứng tên, diện tích trong giấy chứng nhận là 169 m2. Đất có tứ cận: Đông giáp đường K dài 4,85 m; Tây giáp đường dài 5,25 m; Nam giáp thửa 454 (phần chia cho bà N) dài 34,1 m; Bắc giáp thửa 443 (nhà ông Tư Hụi) dài 34,1 m; tr giá 970.000.000 đồng. Ông V được yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết đ nh của bản án.

Sở hữu tài sản trên đất g m có nhà cấp 4C, tr giá 44.400.000 đ ng; mái che tr giá 28.800.000 đồng. Nhà và đất nêu trên ông V đang quản lý.

Sở hữu cây cao su trên phần đất diện tích 197.644,5 m2 (450 cây/ha), tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, tỉnh Tây Ninh, gồm các thửa: 69/82.265,7 m2, 84/29.067,2 m2, 104/31.886,4 m2, 114/18.763,7 m2, 125/13.135,4 m2, 147/8.829,4 m2, 70-1/4.268,5 m2; tờ bản đ số 09 và thửa 23/9.428,2 m2, tờ bản đ số 08 (có sơ đ hiện trạng sử dụng đất kèm theo). Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng, thuộc khu quy hoạch rừng phòng hộ DT, do Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT quản lý. Ông V được tiếp tục hợp đồng với Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT đối với diện tích 197.644,5 m2 đất này. Nếu sau này ông V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà N không được tranh chấp. Tr giá cao su là 2.668.200.000 đồng.

Tài sản bà N đang quản lý, bà N có nghĩa vụ giao lại cho ông V.

Tổng giá tr tài sản ông V được chia là 3.711.400.000 đ ng (ba tỷ bảy trăm mười một triệu bốn trăm nghìn) đồng. 4.2.2. Bà Nguyễn Th N được sử dụng, sở hữu các tài sản gồm:

Sử dụng diện tích 168,7 m2 đất thổ cư, tọa lạc tại ấp V2, xã V3, huyện V4, tỉnh Tây Ninh, thuộc thửa 454, tờ bản đ số 05, tương ứng với thửa 750, tờ bản đồ số 01, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01348/QSDĐ/D12 ngày 17-8-1993, do Ủy ban nhân dân huyện V4 cấp, bà Nguyễn Th N đứng tên, diện tích trong giấy chứng nhận là 180 m2. Đất có tứ cận: Đông giáp đường K dài 5,15 m; Tây giáp đường dài 4,8 m; Nam giáp đất bà P1, ông Q2 dài 34,1 m; Bắc giáp thửa 445 (phần chia cho ông V) dài 34,1 m; tr giá 1.030.000.000 đồng.

Sở hữu tài sản trên đất g m: 01 căn nhà số V1, loại nhà cấp 2, có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số: 02/04/CNSH ngày 05 tháng 01 năm 2004, do Ủy ban nhân dân huyện V4 cấp, ông V và bà N đứng tên, tr giá nhà là 742.352.000 đồng; mái che tr giá 8.522.800 đ ng. Bà N được yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sang tên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà theo quyết định của bản án.

Sở hữu cây cao su trên diện tích đất 114.572,5 m2 (450 cây/ha), thửa 70-2, tờ bản đ số 9, tọa lạc tại ấp A2, xã A3, huyện D4, tỉnh Tây Ninh (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo), đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng, thuộc khu quy hoạch rừng phòng hộ DT, do Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT quản lý. Bà N được tiếp tục hợp đ ng với Ban quản lý Khu rừng phòng hộ DT đối với diện tích 114.572,5 m2 đất này. Nếu sau này bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông V không được tranh chấp. Trị giá cao su là 1.546.728.000 đồng.

Sở hữu 2.475 cây cao su 07 năm tuổi trên phần đất diện tích 55.545,3 m2 và 7.250 cây cao su 02 năm tuổi (tính tại thời điểm ngày 30-5- 2014) trên phần đất diện tích 142.100,2 m2, đất không có số thửa, tọa lạc tại ấp C1, xã C2, huyện L5 , tỉnh Tây Ninh. Tứ cận: Đông giáp đất ông P và ông Q; Tây giáp đường 791, đất ông X1, ông P1; Nam giáp đường 791; Bắc giáp đất bà Q1, ông P, ông P1 (có sơ đ hiện trạng sử dụng đất kèm theo). Đất thuộc khu vực vành đai biên giới, không có giấy chứng nhận quyền sử dụng, bà N được canh tác, nếu sau này bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông V không được tranh chấp. Trị giá cây cao su là: 742.500.000 đ ng + 870.000.000 đ ng = 1.612.500.000 đồng.

Sở hữu 01 chiếc xe ô-tô hiệu Toyota Fortuner, biển số 70A - 3372, số khung 69G894001629; số máy 2KD – 7845060, Giấy chứng nhận đăng ký ô-tô số: 007779 ngày 17 tháng 9 năm 2009, do Công an tỉnh Tây Ninh cấp, bà Nguyễn Th N đứng tên, tr giá 450.000.000 đồng.

Sở hữu 220.000.000 đồng tiền cho thuê đất; 176.000.000 đ ng tiền bán xe máy cày.

Tổng giá tr tài sản bà N được chia là 5.786.102.800 đồng (năm tỷ bảy trăm tám mươi sáu triệu một trăm lẻ hai nghìn tám trăm) đồng.

Toàn bộ tài sản được chia như trên hiện bà N đang quản lý.

4.3. Về nợ chung:

4.3.1. Ông Quách V phải trả cho ông Nguyễn Văn Đ 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, ông Đ không yêu cầu trả tiền lãi.

4.3.2. Bà Nguyễn Th N phải trả cho bà Nguyễn Th B 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng, 25 (hai mươi lăm) lượng vàng 24 K 9999, 25 (hai mươi lăm) lượng vàng SJC, bà B không yêu cầu trả tiền lãi.

4.3.3. Kể từ ngày ông Đ, bà B có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông V chưa trả cho ông Đ, bà N chưa trả cho bà B đủ số tiền như đã nêu trên thì hàng tháng ông V còn phải trả cho ông Đ, bà N còn phải trả cho bà B tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

5. Về chi phí đo đạc, đ nh giá: Ông V tự nguyện ch u 36.500.000 (ba mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đ ng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm; bà N tự nguyện chịu 16.100.000 (mười sáu triệu một trăm nghìn) đồng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Ghi nhận đã nộp xong.

6. Về án phí sơ thẩm:

6.1. Ông Quách V phải chịu 200.000 đồng án phí yêu cầu ly hôn, 86.228.000 đồng án phí chia tài sản chung, 56.614.500 đồng án phí trả nợ chung.

Tổng cộng là 143.042.500 đ ng, được trừ vào 11.075.000 đồng ông V đã nộp theo Biên lai thu số: 0013160 ngày 01 tháng 10 năm 2013 và 625.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số: 0002623 ngày 06 tháng 5 năm 2016, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V4, tỉnh Tây Ninh, số tiền còn lại phải nộp là 131.342.500 (một trăm ba mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm) đồng.

6.2. Bà Nguyễn Th N phải chịu 58.714.000 đồng án phí chia tài sản chung, 56.614.500 đồng án phí trả nợ chung. Tổng cộng là 115.328.500 (một trăm mười lăm triệu ba trăm hai mươi tám nghìn năm trăm) đồng.

6.3. Ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Th B không phải ch u án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Đ 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đ ng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: 0000734 ngày 19 tháng 9 năm 2014; hoàn trả cho bà B 56.100.000 (năm mươi sáu triệu một trăm nghìn) đ ng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: 0000736 ngày 19 tháng 9 năm 2014, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V4, tỉnh Tây Ninh.

7. Về án phí phúc thẩm:

Ông V phải chịu 300.000 đ ng, được trừ vào 200.000 đ ng tạm ứng án phí phúc thẩm ông V đã nộp theo Biên lai thu số: 0003423 ngày 01-12-2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V4, tỉnh Tây Ninh, số tiền còn lại phải nộp là 100.000 (một trăm nghìn) đồng.

Bà N phải chịu 300.000 đ ng, được trừ vào 200.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: 0003430 ngày 01-12-2016, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V4, tỉnh Tây Ninh, số tiền còn lại phải nộp là 100.000 (một trăm nghìn) đồng.

8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


147
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về