Bản án 38/2019/HSST ngày 26/08/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH H

BẢN ÁN 38/2019/HSST NGÀY 26/08/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 26/8/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số: 25/2019/ TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 716/2019/QĐXXST-HS ngày 02/7/2019 đối với bị cáo:

HOÀNG ĐỨC H sinh năm 1975, tại huyện B, tỉnh H; Nơi cư trú: tổ 02, thị trấn Vinh Q, huyện Hoàng S, tỉnh H; Giới tính: nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Hoàng Trung V (đã chết) và bà: Chu Thị L sinh năm 1946; vợ Tống Thị Kim Thủy N, sinh năm 1973; bị cáo có 1 con, sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ 02, thị trấn Vinh Q, huyện Hoàng S, tỉnh H. Có mặt.

- Bị hại:

1. Ông Hầu Văn L, sinh năm 1967; nơi cư trú: Tổ 11, phường Minh K, thành phố H, tỉnh H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Ông Linh Văn X, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ 4, phường Minh K, thành phố H, tỉnh H. Có mặt.

3. Người đại diện cho bị hại theo ủy quyền của Công an tỉnh H: Ông Nguyễn Hải Q, sinh năm 1975; nơi cư trú: Số nhà 177b, đường L Tự Trọng, tổ 1, phường Trần P, thành phố H, tỉnh H. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Tống Thị Kim Thủy N, sinh năm 1973; Nơi cư trú: tổ 2, thị trấn Vinh Q, huyện Hoàng S, tỉnh H. Có mặt.

2. Ông Hà Hoa L, sinh năm 1962; Là người đại diện theo pháp luật của HTX giao thông vận tải Hoa L; Nơi cư trú: tổ 1, thôn Cầu Mè, xã Phương Th, thành phố H, tỉnh H. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Tống Đình Th ông Hà Hữu H; vắng mặt Anh Lù Văn T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 10/12/2018, Hoàng Đức H sinh năm 1975, trú tại: tổ 02, thị trấn Vinh Q, huyện Hoàng S, tỉnh H. (Có giấy phép lái xe hạng D do Sở Giao thông vận tải tỉnh Phú Th cấp ngày 04/12/2013 có giá trị đến ngày 04/12/2018 ), điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 23B-000.43 chở khách theo lộ trình từ thị trấn Vinh Q, huyện Hoàng S, tỉnh H đến Bến xe khách thành phố H, tỉnh H. Đến khoảng 10 giờ 39 phút cùng ngày, khi đi đến Km 13+700m Quốc lộ II, đường H – Tuyên Q, đoạn đường hơi cua sang phải (thuộc địa phận thôn Tân Tiến, xã Đạo Đ, huyện V, tỉnh H), H điều khiển xe đè lên vạch sơn kẻ đứt đoạn mầu trắng (phân hai phần đường ngược chiều), lấn sang phần đường ngược chiều 0,56m và đâm vào xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 đang di chuyển ngược chiều (hướng H đi Tuyên Q), do anh Linh Văn X (sinh năm 1981, trú tại: tổ 4, phường Minh K, thành phố H, tỉnh H. Có giấy phép lái xe hạng E, do Cục Cảnh sát giao thông-Bộ Công an cấp ngày 29/8/2016, có giá trị đến ngày 29/8/2021) điều khiển, ngồi trên xe ô tô có ông Hầu Văn L (sinh năm 1967, địa chỉ: phường Minh K, thành phố H, tỉnh H). Hậu quả: anh Linh Văn X bị rạn đầu dưới X quay tay trái, xây xát cơ thể, ông Hầu Văn L bị gẫy X bả vai trái, tổn thương nhu mô phổi, 02 xe ô tô bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra xác định: Hiện trường được tính theo hướng H đi Tuyên Q (lấy cột điện số 45 bên trái đường làm mốc), đường dải nhựa phẳng, cua sang bên trái, hai bên đường có vạch sơn mầu trắng kẻ liền, giữa đường có vạch sơn màu vàng kẻ đứt đoạn, lòng đường rộng 6,82m, lề trái rộng 1,30m, lề phải rộng 1,30m.

Điểm va chạm được xác định nằm trong lòng đường, thuộc phần đường bên phải theo hướng H-Tuyên Q: Tại vị trí này trục trước bên trái xe ô tô 23B-000.43 cách mép trong vạch sơn kẻ liền màu trắng bên trái (theo hướng Tuyên Q -H) là 2,85m, trục trước bên phải cách 4,7m, trục sau bên trái cách 3,09m, trục sau bên phải cách 4,96m. Tại vị trí này trục trước bên trái xe ô tô 80A-266.89 cách mép trong vạch kẻ liền kề mầu trắng bên phải (theo hướng H-Tuyên Q) là 2,58m, trục trước bên phải cách 0,7m, trục sau bên trái cách 2,7m, trục sau bên phải cách 0,83m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện thể hiện dấu vết của vụ va chạm:

- Xe ô tô BKS 80A-266.89: cụm đèn chiếu sáng và đèn tín hiệu phía trước hai bên trái, phải vỡ, mặt nạ phía trước bị hư hỏng hoàn toàn, cản trước vỡ, biến dạng; nắp capô cong vênh, trượt xước; kính chắn gió phía trước vỡ hỏng hoàn toàn; gương chiếu hậu bên trái vỡ hỏng...

- Xe ô tô BKS 23B-000.43: đèn chiếu sáng và đèn tín hiệu phía trước bên trái bị vỡ hỏng; phần vỏ xe phía trước bên trái bị móp méo biến dạng, bong tróc phần sơn; gương chiếu hậu bên trái bị vỡ hỏng...

Ngay sau khi xảy ra tai nạn, tiến hành kiểm tra không phát hiện nồng độ cồn trong khí thở của Hoàng Đức H và Linh Văn X. Thu thập dấu vết đường vân trên vỏ bọc vô lăng và phần nhựa đầu cần chuyển số xe ô tô biển kiểm soát 23B- 000.43: xác định được đường vân đủ yếu tố giám định trên phần nhựa cần chuyển số là của Hoàng Đức H.

Kết luận giám định pháp y thương tích số 11/TgT ngày 19/02/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận: Tỷ lệ thương tích trên cơ thể của ông Hầu Văn L là 17% (mười bảy phần trăm).

Kết luận giám định pháp y số 12/TgT ngày 22/02/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận: Tỷ lệ thương tích trên cơ thể của ông Linh Văn X là 4% (bốn phần trăm).

Kết luận định giá tài sản ngày 11/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện V kết luận: xe ô tô biển kiểm sát 23B-000.43 thiệt hại 7.400.000đ (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng); xe ô tô biển kiểm sát 80A-266.89 thiệt hại 484.118.000đ (bốn trăm tám mươi tư triệu một trăm mười tám nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại đều nhất trí với các kết quả giám định về sức khỏe của ông L, ông X và kết luận định giá thiệt hại về tài sản của xe ô tô biển kiểm sát 23B-000.43, xe ô tô biển kiểm sát 80A-266.89 .

Cáo trạng số 26/KSĐT ngày 16/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H truy tố bị cáo Hoàng Đức H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức H, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Đức H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 60 tháng. Thời hạn thử thách đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 26/8/2019) giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 261 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo chưa đến mức phải áp dụng hình phạt bổ sung, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra đã tạm giữ:

- 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe con, màu trắng, biển kiểm soát 80A-266.89; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 003070 do Cục cảnh sát giao thông-Bộ Công an cấp ngày 16/9/2015; 01 sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của lực Lợng Công an nhân dân do Công an tỉnh H cấp ngày 26/11/2018 có giá trị đến ngày 26/05/2020.

- 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Transinco, loại xe ô tô khách, mầu sơn nâu trắng, biển kiểm soát 23B-000.43; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004613 do Công an tỉnh H cấp ngày 19/3/2014 có giá trị đến ngày 31/12/2027; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số KC6304648 do Trung tâm đăng kiểm giao thông vận tải, Sở giao thông vận tải tỉnh Tuyên Q cấp ngày 15/10/2018 có hiệu lực đến hết ngày 14/04/2019; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 80245843 do Công ty bảo hiểm H cấp ngày 01/9/2018 có giá trị đến 08h ngày 04/9/2019; 01 giấy phép lái xe số 250131011611 do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thcấp ngày 04/12/2013 có giá trị đến ngày 04/12/2018.

Qua điều tra, xác minh làm rõ nguồn gốc phương tiện, căn cứ vào đơn xin lại tài sản, xét thấy không cần thiết phải tạm giữ phương tiện và giấy tờ liên quan, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã trả lại tài sản, phương tiện và giấy tờ liên quan cho ông Nguyễn Hải Q (nơi cư trú tổ 01, phường Trần P, thành phố H, tỉnh H) là người đại diện hợp pháp của xe ô tô BKS 80A-266.89 và Hoàng Đức H là chủ sở hữu xe ô tô BKS 23B-000.43. Vì vậy không đề nghị HĐXX xem xét.

Trách nhiệm dân sự:

Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo H gây ra như sau:

Kết luận giám định pháp y thương tích số 11/TgT ngày 19/02/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận: Tỷ lệ thương tích trên cơ thể của ông Hầu Văn L là 17% (mười bảy phần trăm).

Kết luận giám định pháp y số 12/TgT ngày 22/02/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận: Tỷ lệ thương tích trên cơ thể của ông Linh Văn X là 4% (bốn phần trăm).

- Bị hại ông Hầu Văn L, ông Linh Văn X không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt về sức khỏe.

Kết luận định giá tài sản ngày 11/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện V xác định: Xe ô tô biển kiểm sát 23B-000.43 thiệt hại 7.400.000đ (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng); xe ô tô biển kiểm sát 80A-266.89 thiệt hại 484.118.000đ (bốn trăm tám mươi tư triệu một trăm mười tám nghìn đồng).

- Bà Tống Thị Kim Thủy N (vợ của bị cáo Hoàng Đức H) là đồng sở hữu chung xe ô tô BKS 23B-000.43 không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường thiệt hại đã gây ra cho xe ô tô BKS 23B-000.43.

- Người đại diện cho bị hại theo ủy quyền của Công an tỉnh H, Ông Nguyễn Hải Q: Yêu cầu bị cáo Hoàng Đức H phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đối với xe ô tô BKS 80A-266.89, số tiền là 484.118.000đ (bốn trăm tám mươi bốn triệu một trăm mười tám nghìn đồng). Do bị cáo Hoàng Đức H đã tự nguyện nộp 20.000.000đ để khắc phục sửa xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 hiện tại còn lại 464.118.000đ, bị cáo có cam kết trả tiếp 100.000.000đ vào ngày 26/9/2019.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, 601 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Hoàng Đức H phải bồi thường số tiền còn lại là 464.118.000đ cho Công an tỉnh H để khắc phục sửa chữa xe ô tô BKS 80A-266.89 theo nội dung bị cáo đã cam kết trong biên bản tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Công an tỉnh H vào ngày 23/8/2019, người đại diện theo ủy quyền của Công an tỉnh H là ông Nguyễn Hải Q có trách nhiệm trực tiếp nhận tiền do bị cáo bồi thường.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Hoàng Đức H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch.

- Ý kiến của Bị cáo Hoàng Đức H: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm đã truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, bản thân bị cáo cũng rất hối hận về hành vi phạm tội của mình vì vào thời điểm bị cáo gây tai nạn là do phía trước xe của bị cáo có 2 xe máy đi cùng làn đường nên bị cáo phải lấn sang phần đường bên trái để vượt lên, cùng lúc đó xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 đi tốc độ rất nhanh từ trên xuống ngược chiều với xe của bị cáo, thấy vậy bị cáo đã đánh lái xe sang phần đường phải để tránh nhưng không kịp, vì vậy đầu xe phần Bađờsốc bên lái của bị cáo đã đâm vào sườn bên trái của xe con làm xe con mất lái lật đổ ngửa xe, hậu quả xẩy ra là ngoài ý muốn của bị cáo, hiện nay gia đình bị cáo rất khó khăn, nên bị cáo mới tự nguyện khắc phục cho Công an tỉnh H được 20.000.000đ còn lại 464.118.000đ bị cáo sẽ bồi thường tiếp 100.000.000đ vào ngày 26/9/2019, số tiền còn lại bị cáo sẽ cố gắng tích cực bồi thường trong thời gian tiếp theo, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thời gian lao động làm ra vật chất để khắc phục hậu quả do bị cáo đã gây ra và có điều kiện chăm sóc gia đình vì hiện nay mẹ đẻ của bị cáo tuổi đã cao, sức khỏe yếu, con của bị cáo đang ở độ tuổi cần có sự chăm sóc dạy bảo trực tiếp của bố mẹ.

- Ý kiến của bị hại Linh Văn X: Nhất trí với quan điểm của Viện Kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội danh và phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, không nhất trí với ý kiến của bị cáo H cho rằng vào thời điểm bị cáo gây tai nạn do xe con đi với tốc độ rất nhanh là không đúng, vì theo lệnh điều xe thì thời điểm xuất phát của xe con từ Công an tỉnh H đi lúc 10giờ đến km13 bị va chạm là10h39phút, thì tính trung bình xe con đi với vận tốc là 40km/h, đoạn đường xảy ra tai nạn có gờ giảm tốc, và trời mưa, đường trơn, xe con do anh X điều khiển có nhiệm vụ chở cán bộ đi công tác nên anh X luôn ý thức để lái xe an toàn tuyệt đối, khi phát hiện xe của bị cáo H đi lấn sang phần đường ngược chiều khoảng 0,56m trên đoạn đường cua, anh X đã lái xe sang phần đường bên phải để tránh nhưng không kịp nên đầu xe phần Bađờsốc bên lái của bị cáo đã đâm vào sườn bên trái của xe con làm xe con mất lái lật đổ ngửa xe, người trong xe bị thương theo kết luận giám định thể hiện thiệt hại sức khỏe của anh Hầu Văn L là 17%, anh X bị thiệt hại sức khỏe là 4% còn xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 bị hư hỏng toàn bộ. Hiện tại sức khỏe của anh X đã phục hồi nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại sức khỏe; về hình phạt: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian khắc phục hậu quả.

- Ý kiến của anh Nguyễn Hải Q đại diện bị hại: Xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 là tài sản của Công an tỉnh H, được Bộ Công an trang bị để phục vụ công tác của đơn vị từ năm 2014, do Công an tỉnh H trực tiếp quản L sử dụng, đồng thời Bộ Công an có mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với ô tô biển kiểm soát 80A-266.89, ngày 10/12/2018 Công an tỉnh H có lệnh điều xe cho anh Linh Văn X có nhiệm vụ trực tiếp lái xe đưa ông Hầu Văn L, đi Công tác tại huyện Q Bình trên đường đi từ H đến km13+700m Quốc lộ II, đường H – Tuyên Q thì tai nạn xảy ra, xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 bị thiệt hại theo kết luận định giá trong tố tụng là 484.118.000đ nhưng quá trình sửa chữa với giá trị thưc tế là 598.809.970đ có hóa đơn, chứng từ kèm theo, trong quá trình điều tra bị cáo Hoàng Đức H và vợ là Tống Thị Kim Thủy N đã thỏa thuận với đại diện Công an tỉnh H về bồi thường thiệt hại đối với xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 theo kết luận định giá trong tố tụng là 484.118.000đ. Vì tai nạn xảy ra là hoàn toàn do lỗi của bị cáo Hoàng Đức H, nên Bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Công an tỉnh H đối với ô tô biển kiểm soát 80A-266.89, bị cáo H đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Công an tỉnh H 20.000.000đ tiền sửa chữa xe ô tô và cam kết bồi thường tiếp 100.000.000đ vào ngày 26/9/2019. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Hoàng Đức H phải bồi thường số tiền 464.118.000đ theo quy định của pháp luật và xét giảm nhẹ hình phạt để tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra.

- Ý kiến của bà Tống Thị Kim Thủy N: Xe ô tô biển kiểm sát 23B-000.43 bị thiệt hại 7.400.000đ (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng) là tài sản chung của vợ chồng, nên chị N không yêu cầu bị cáo H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mà cả hai vợ chồng cùng có trách nhiệm để khắc phục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại ông Hầu Văn L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Hoa L, người làm chứng ông Tống Đình Th Hà Hữu H, căn cứ vào các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Đức H thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; Biên bản, Bản ảnh khám nghiệm phương tiện; Biên bản, sơ đồ, bản ảnh thực nghiệm điều tra; Biên bản về việc định giá; Kết luận định giá tài sản trong tố tụng đối với xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89; xe ô tô biển kiểm soát 23B-000.43; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với ông Hầu Văn L, Linh Văn X, Kết luận giám định pháp y về thương tích đối với ông Hầu Văn L, ông Linh Văn X; Kết luận về việc giám định tốc độ, Báo cáo chi tiết hành trình của xe khách biển kiểm sát 23B-000.43; Bản ảnh dấu vết đường vân, Kết luận giám định đường vân tay đối với Hoàng Đức H; Biên bản kiểm tra nồng độ cồn đối với Hoàng Đức H, Linh Văn X; Lệnh Điều xe đối với ô tô biển kiểm soát 80A-266.89; Giấy phép lái xe của Linh Văn X và bị cáo Hoàng Đức H. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 10 giờ 39 phút ngày 10/12/2018, tại Km 13+700m Quốc lộ II, đường H – Tuyên Q, bị cáo Hoàng Đức H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 23B-000.43 không tuân thủ quy tắc giao thông, không đi đúng phần đường quy định, lấn sang phần đường của phương tiện ngược chiều là 0,56m (khoảng cách từ tim đường đến vị trí trục trước bên trái của xe ô tô BKS 23B-000.43 lấn sang) đã đâm vào xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 do anh Linh Văn X điều khiển đang di chuyển ngược chiều làm xe con mất lái, đổ lật ngửa xe, người ngồi trong xe bị thương theo kết luận giám định thể hiện thiệt hại về sức khỏe của ông Hầu Văn L là 17%, ông Linh Văn X là 04%, còn xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 bị hư hỏng toàn bộ, giá trị thiệt hại là 484.118.000đ (bốn trăm tám mươi tư triệu một trăm mười tám nghìn đồng), xe ô tô biển kiểm sát 23B-000.43 bị thiệt hại 7.400.000đ (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).

Bị cáo Hoàng Đức H có giấy phép lái xe hạng D do Sở Giao thông vận tải tỉnh Phú Thcấp ngày 04/12/2013 có giá trị đến ngày 04/12/2018, đến thời điểm xảy ra tai nạn là ngày 10/12/2018, bị cáo H chưa làm thủ tục để đăng ký đổi bằng lái xe đã hết hạn, theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông thì Hoàng Đức H không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật.

- Đối với xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 do anh Linh Văn X trực tiếp lái xe chở ông Hầu Văn L đi công tác tại huyện Q Bình theo lệnh điều xe của Công an tỉnh H, địa điểm xuất phát từ thành phố H, thời gian bắt đầu xuất phát là 10h ngày 10/12/2018 khi đi đến địa điểm bị va chạm xảy ra tai nạn tại km13+700m Quốc lộ II, đường H – Tuyên Q (thuộc địa phận thôn Tân Tiến, xã Đạo Đ, huyện V, tỉnh H) theo kết luận giám định tốc độ và báo cáo chi tiết hành trình của xe ô tô biển kiểm soát 23B-000.43 thể hiện thời gian xảy ra tai nạn vào lúc 10h39phút, xác định tốc độ di chuyển trung bình của xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 là 40km/h, đồng thời điểm va trạm nằm trên đoạn đường không bị giới hạn về tốc độ cho phép nhưng có gờ giảm tốc nên bắt buộc phương tiện tham gia giao thông trên đoạn đường này phải chấp hành theo tốc độ cho phép, anh X có giấy phép lái xe do Cục Cảnh sát giao thông-Bộ Công an cấp ngày 29/8/2016, có giá trị đến ngày 29/8/2021).

- Kết luận giám định nồng độ cồn, chất gây nghiện đối với Linh Văn X, Hoàng Đức H đều có kết quả âm tính.

Tại Khoản 11 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định.

Các hành vi bị nghiêm cấm:....

...

11. Điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định, giành đường, vượt ẩu…

Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định về quy tắc chung:

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ…"

Điểm d khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;…”

Căn cứ vào lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông là do bị cáo Hoàng Đức H không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn cố ý điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 23B-000.43, khi tham gia giao thông bị cáo không tuân thủ quy tắc giao thông, không đi đúng phần đường quy định, lấn sang phần đường của phương tiện ngược chiều là 0,56m, hậu quả tai nạn do bị cáo gây ra là thiệt hại sức khỏe của các bị hại và thiệt hại về tài sản là xe ô tô biển kiểm soát 80A- 266.89, xe ô tô biển kiểm sát 23B-000.43 thể hiện trong phần nội dung vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo H đã vi phạm khoản 11 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H truy tố bị cáo Hoàng Đức H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Bị cáo Hoàng Đức H là công dân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên bị cáo phải nhận thức được trong tình hình hiện nay tai nạn giao thông đang ngày càng gia tăng, gây ra nhiều hậu quả thảm khốc dẫn đến thương tích, chết người, thiệt hại về tài sản rất nghiêm trọng, Nhà nước đã có chủ trương yêu cầu các cơ quan chức năng tuyên truyền, cảnh báo đến mọi công dân để nêu cao ý thức khi tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân thủ, chấp hành các quy định, quy tắc giao thông. Bị cáo làm nghề lái xe vận tải hành khách có giấy phép lái xe hạng D do Sở Giao thông vận tải tỉnh Phú Thcấp ngày 04/12/2013 có giá trị đến ngày 04/12/2018, đến thời điểm xảy ra tai nạn là ngày 10/12/2018, bị cáo H chưa làm thủ tục để đăng ký đổi bằng lái xe đã hết hạn theo quy định, nhưng bị cáo đã cố ý điều khiển xe ô tô khi không còn đủ điều kiện để tham gia giao thông, trong quá trình điều khiển xe ô tô bị cáo đã không chú ý quan sát, điều khiển xe vượt ẩu lấn sang phần đường ngược chiều và đâm vào xe ô tô do anh X điều khiển, lỗi của bị cáo H là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tai nạn như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nơi xảy ra tai nạn, vì vậy xét thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo đã gây ra.

Đánh giá về nhân thân và tính chất, mức độ của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hoàng Đức H, Hội đồng xét xử, xét thấy: Hành vi của bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Khi tai nạn xảy ra bị cáo tích cực đưa người bị nạn đi cấp cứu kịp thời, trong quá trình điều tra bị cáo cùng vợ tự nguyện thỏa thuận với Công an tỉnh H để bồi thường khắc phục thiệt hại đối với xe ô tô biển kiểm soát 80A- 266.89 theo kết luận định giá trong tố tụng là 484.118.000đ nhưng vì điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho Công an tỉnh H 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) và cam kết sẽ bồi thường tiếp 100.000.000đ vào ngày 26/9/2019, về phía bị hại anh X, anh Q đại diện của Công an tỉnh H tại phiên tòa có đề nghị Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, vì vậy Hội đồng xét xử, thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là đủ để bị cáo thấy được sai phạm, tự cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian tiếp tục lao động tạo thu nhập lấy tiền khắc phục hậu quả và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, Hội đồng xét xử, xét tính chất mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra chưa đến mức phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự:

Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Đức H gây ra hậu quả như sau:

- Kết luận giám định pháp y thương tích kết luận: Tỷ lệ thương tích trên cơ thể của ông Hầu Văn L là 17% (mười bảy phần trăm); ông Linh Văn X là 04% (bốn phần trăm).

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại ông Hầu Văn L, ông Linh Văn X không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt về sức khỏe.

Kết luận định giá tài sản ngày 11/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện V xác định: Xe ô tô biển kiểm sát 23B-000.43 thiệt hại 7.400.000đ (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng); xe ô tô biển kiểm sát 80A-266.89 thiệt hại 484.118.000đ (bốn trăm tám mươi tư triệu một trăm mười tám nghìn đồng).

- Bà Tống Thị Kim Thủy N (vợ của bị cáo Hoàng Đức H) là đồng sở hữu chung xe ô tô BKS 23B-000.43 không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường thiệt hại đã gây ra cho xe ô tô BKS 23B-000.43.

Đối với những thiệt hại, do bị hại và người có quyền lợi liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Người đại diện cho bị hại theo ủy quyền của Công an tỉnh H, Ông Nguyễn Hải Q: Yêu cầu bị cáo Hoàng Đức H phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đối với xe ô tô BKS 80A-266.89, số tiền là 484.118.000đ (bốn trăm tám mươi bốn triệu một trăm mười tám nghìn đồng). Bị cáo đã tự nguyện bồi thường trước khi Tòa án mở phiên tòa 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) còn lại 464.118.000đ 000đ (Bốn trăm sáu mươi bốn triệu một trăm mười tám nghìn đồng).

Hội đồng xét xử căn cứ vào: Ý kiến của ông Nguyễn Hải Q tại phiên tòa, lời khai của ông Hà Hoa L trong giai đoạn điều tra Lu trong hồ sơ (Bút lục số 277 đến 279) Kết luận định giá tài sản ngày 11/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện V xác định: Xe ô tô biển kiểm sát 80A-266.89 thiệt hại 484.118.000đ (bốn trăm tám mươi tư triệu một trăm mười tám nghìn đồng) (Bút lục số 101); Công văn số 23/V22-P2 ngày 04/01/2018 của Cục tài chính Bộ Công an “Thông báo V/v Bộ Công an đã mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba cho toàn bộ xe ô tô, xe mô tô của các đơn vị thuộc Bộ Công an”; (Bút lục số 115 -117); Biên bản xác minh của cơ quan điều tra Công an huyện V với Công ty Bảo hiểm Bảo việt tỉnh H (Bút lục số 118); Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô của Sở giao thông Vận tải tỉnh H cấp cho HTX giao thông vận tải Hoa L; Biên bản họp ban quản trị HTX giao thông vận tải Hoa L; Quyết định của HTX giao thông vận tải Hoa L đối với Hoàng Đức H v/v góp vốn vào HTX là chiếc ô tô BKS 23B.000.43; Hợp đồng lao động số 12 ngày 09/5/2014 của HTX Hoa L đối với Hoàng Đức H, (Bút lục từ số 277 đến 284). Từ căn cứ trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 là tài sản của Công an tỉnh H, được Bộ Công an trang bị để phục vụ công tác của đơn vị từ năm 2014, do Công an tỉnh H trực tiếp quản L sử dụng, đồng thời Bộ Công an có mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với ô tô biển kiểm soát 80A-266.89. Ngày 10/12/2018 Công an tỉnh H đã ra lệnh điều xe cho anh Linh Văn X có nhiệm vụ trực tiếp lái xe đưa ông Hầu Văn L, đi Công tác tại huyện Q Bình trên đường đi từ H đến km13+700m Quốc lộ II, đường H – Tuyên Q thì tai nạn xảy ra, xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 bị thiệt hại phải sửa chữa với giá trị thưc tế là 598.809.970đ có hóa đơn, chứng từ kèm theo, trong quá trình điều tra bị cáo Hoàng Đức H và vợ là Tống Thị Kim Thủy N đã thỏa thuận với đại diện Công an tỉnh H về bồi thường thiệt hại đối với xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 theo kết luận định giá trong tố tụng là 484.118.000đ. Vì hậu quả của vụ tai nạn là hoàn toàn do lỗi của bị cáo Hoàng Đức H gây ra, nên Bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Công an tỉnh H đối với ô tô biển kiểm soát 80A-266.89, kể từ khi thỏa thuận đến nay bị cáo H tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Công an tỉnh H 20.000.000đ ( Hai mươi triệu đồng). Hợp đồng lao động số 12 ngày 09/5/2014 của HTX Hoa L đối với Hoàng Đức H, trong phần 2 quy định rõ về nghĩa vụ của Hoàng Đức H “.. khi tham gia giao thông trên đường nếu để xảy ra tai nạn thì Hoàng Đức H phải hoàn toàn chịu trách nhiệm bồi thường về thiệt hại vật chất và chịu trách nhiệm trước pháp luật về lỗi của mình”. Vì vậy ý kiến của người đại diện cho Công an tỉnh H đề nghị Hội đồng xét xử buộc Bị cáo Hoàng Đức H phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ số tiền 484.118.000đ (bốn trăm tám mươi tư triệu một trăm mười tám nghìn đồng) để sửa chữa xe ô tô biển kiểm soát 80A-266.89 là phù hợp với thực tế, đúng quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, 601 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Hoàng Đức H phải bồi thường số tiền 484.118.000đ (Bốn trăm tám mươi tư triệu một trăm mười tám nghìn đồng) cho Công an tỉnh H, do bị cáo H đã tự nguyện khắc phục bồi thường số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 464.118.000đ (Bốn trăm sáu mươi tư triệu một trăm mười tám nghìn đồng) người đại diện theo ủy quyền của Công an tỉnh H là ông Nguyễn Hải Q có trách nhiệm trực tiếp nhận tiền do bị cáo bồi thường.

[5].Vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra đã tạm giữ:

- 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe con, màu trắng, biển kiểm soát 80A-266.89; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 003070 do Cục cảnh sát giao thông-Bộ Công an cấp ngày 16/9/2015; 01 sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của lực Lợng Công an nhân dân do Công an tỉnh H cấp ngày 26/11/2018 có giá trị đến ngày 26/05/2020.

- 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Transinco, loại xe ô tô khách, mầu sơn nâu trắng, biển kiểm soát 23B-000.43; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004613 do Công an tỉnh H cấp ngày 19/3/2014 có giá trị đến ngày 31/12/2027; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số KC6304648 do Trung tâm đăng kiểm giao thông vận tải, Sở giao thông vận tải tỉnh Tuyên Q cấp ngày 15/10/2018 có hiệu lực đến hết ngày 14/04/2019; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 80245843 do Công ty bảo hiểm H cấp ngày 01/9/2018 có giá trị đến 08h ngày 04/9/2019; 01 giấy phép lái xe số 250131011611 do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thcấp ngày 04/12/2013 có giá trị đến ngày 04/12/2018.

Hội đồng xét xử, xét thấy trong quá trình điều tra đã xác minh làm rõ nguồn gốc phương tiện, căn cứ vào đơn xin lại tài sản của các chủ sở hữu, cơ quan điều tra Công an huyện V thấy không cần phải tạm giữ phương tiện và giấy tờ liên quan, nên đã trả lại tài sản, phương tiện và giấy tờ có tình trạng, đặc điểm như trên cho ông Nguyễn Hải Q người đại diện hợp pháp của xe ô tô BKS 80A-266.89 và Hoàng Đức H, chủ sở hữu xe ô tô BKS 23B-000.43 là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Hoàng Đức H phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 22.564.720đ ( Hai mươi hai triệu, năm trăm sáu mươi tư ngàn đồng) án phí dân sự có giá ngạch.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Đức H, phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Đức H 03 (Ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/8/2019).

Giao bị cáo Hoàng Đức H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Vinh Q, huyện Hoàng S, tỉnh H theo dõi giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hoàng Đức H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, 601 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Hoàng Đức H phải bồi thường số tiền 464.118.000đ (Bốn trăm sáu mươi tư triệu một trăm mười tám nghìn đồng) cho Công an tỉnh H để sửa chữa xe ô tô BKS 80A-266.89, người đại diện theo ủy quyền của Công an tỉnh H là ông Nguyễn Hải Q sinh năm 1975; nơi cư trú: Số nhà 177b, đường L Tự Trọng, tổ 1, phường Trần P, thành phố H, tỉnh H có trách nhiệm trực tiếp nhận tiền do bị cáo bồi thường.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành khoản tiền phải bồi th- ường nói trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành.

Án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hoàng Đức H phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 22.564.720đ ( Hai mươi hai triệu, năm trăm sáu mươi tư nghìn bảy trăm hai mươi đồng) án phí dân sự có giá ngạch.

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Báo cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


28
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về