Bản án 38/2018/HS-ST ngày 13/03/2018 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 38/2018/HS-ST NGÀY 13/03/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Trong ngày 13 tháng 3 năm 2018. Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2018/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

* Họ và tên Lê Từ Q (T) -  Sinh năm 1988; Hộ khẩu thường trú: Ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh C; Chỗ ở: Ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh C; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Sẫm Yến M; Tiền án,Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/11/2013 bị Chủ tịch UBND tỉnh C đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 18 tháng, đến ngày 31/01/2015 chấp hành xong quyết định; Bắt tạm giam ngày 22/8/2017 và tạm giam cho tới nay.

Bị cáo bị giam có mặt.

* Bị hại: Võ Văn H – Sinh năm: 1992 (xin vắng)

Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh C.

Tạm trú: Ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 14/6/2017, tại nhà của Trần Văn S, trú ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh C tổ chức nhậu gồm có S, Lê Từ Q và 02 người nữa chỉ biết tên là T và K ở cùng xóm với S. Nhậu xong đến khoảng 15 giờ cùng ngày, thì Võ Văn H, đến nhà S chơi và nhậu chung.

Nhậu đến khoảng 17 giờ cùng ngày, tất cả đi sang nhà của K, gần nhà của S nhậu tiếp. Tại đây nhậu hết 01 thùng bia thì nghỉ nhậu, lúc này khoảng 19 giờ 30 cùng ngày thì Q đã say, nên H kè Q đi về nhà của S. Trên đường về gần tới nhà của S thì H kêu Q về nhà của Q, nhưng Q không chịu về nhà. Đồng thời, Q dùng tay phải của mình gạt tay của H ra, không cho H kè Q, H thấy vậy nắm chặt cánh tay của Q để kè, nhưng Q dùng tay trái gỡ tay của H và tự bước đi. H nhào từ phía sau tới xô vào lưng của Q làm Q té ngã xuống lộ. Do bị ngã, Q tức giận liền đi thẳng vào nhà của S để tìm dao, mục đích chém H. Thấy Q đi vào nhà của S, thì H cũng đi theo Q vào trong nhà sau, Q đến gần chỗ để chén nhà của S, nhìn thấy 01 con dao không có cán và Q dùng tay phải lấy được 01 con dao bằng kim loại màu trắng dài 23 cm, bản dao chỗ rộng nhất 06 cm chém trúng vào tay trái của H 01 dao. H bị chém nên sợ Q chém tiếp liền vật và Q xuống nền nhà, nhưng Q dùng dao đâm ngược lên phía trên trúng vào cổ, cằm, miệng của H. Ngay lúc này, S cùng ông K vào can ngăn và khống chế được Q. Qua khám nghiệm hiện trường đã thu giữ được dao gây án. Đối với H được đưa đi bệnh viện điều trị sau khi bị Q gây thương tích. Đến 16 giờ 25 phút, ngày 15/6/2017 Q giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau 01 áo sơ mi dài tay, màu đen trắng có dính nhiều dấu vết màu đỏ nghi là máu.

Tại kết luận GĐ số 618/TgT.17 ngày 26/7/2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Thương tích đối với Võ Văn H

-    Đa vết thương phần mềm tạo sẹo.

+ Tại vùng dưới mặt, cạnh cằm trái có kích thước 3 x 0,2 cm , ảnh hưởng thẩm mỹ.

+ Tại môi dưới kích thước 2,5 x 01 cm.

+ Tại vùng cổ dưới trái có hai vết kích thước 04 cm x 02 cm và 8,5 x 0,2 cm.

-Vết thương mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái gây đứt gân duỗi các ngón I đến ngón IV, Đứt gân duỗi cổ tay quay, đã được phẫu thuật kích thước gân hiện còn:

+ Sẹo kích thước 8,5 x 0,15 cm tại cẳng tay.

+ Hạn chế vận động bàn ngón tay do tổn thương thần kinh quay ngang qua vết thương.

Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ chế do thương tích gây nên hiện tại là 32%.

Tại kết luận GĐ số 179-GĐSV/2017 ngày 12/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:

5.1 Vết màu nâu đỏ nghi máu dính trên lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, chiều dài lưỡi dao đo tại vị trí cán dao dài 23 cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao rộng 06 cm, là nhóm máu O.

5.2 Vết màu nâu sậm nghi máu dính trên cái ao bằng vải dài tay, màu đen trắng, ở bâu áo có hiệu LiuDu là nhóm máu O.

5.3 Mẫu máu thu của Võ Văn H được thu vào ngày 04/10/2017 thuộc nhóm máu O

Quá trình điều tra, Lê Từ Q hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Đối với bị hại Võ Văn H hiện đã được gia đình bị cáo khắc phục 30 triệu đồng bồi thường, nên hiện H bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối với Q.

Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm 01 con dao dài 23 cm bản rộng dao  06cm. 01 áo sơ mi dài tay màu đen, phía trước ngực và hai tay áo có hoa văn màu trắng, có dính máu màu nâu sậm nghi là máu .

Tại cáo trạng số 22/KSĐT-TA ngày 16/01/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Lê Từ Q về tội "Cố ý gây thương tích" theo Điểm c Khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố cáo Lê Từ Q  theo cáo trạng số: 22/KSĐT-TA ngày 16/01/2018.

- Tuyên bố bị cáo Lê Từ Q phạm tội “Cố ý gây thương tích". Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 3 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao, áo sơ mi. Về trách nhiệm dân sự người bị hại không yêu cầu không đặt ra xem xét .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, cho thấy bị cáo có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây ra thương tích cho người bị hại Võ Văn H được giám định tỷ lệ thương tật là 32%. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, do đó bị cáo phải gánh chịu hậu quả do bản thân bị cáo gây ra. Nên cáo trạng truy tố bị cáo theo Điều 134 Khoản 3  Điểm c của Bộ luật hình sự là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[2] Xét hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Khi xét xử bị cáo là người đã trưởng thành, đủ nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm và vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, cho thấy bị cáo thực hiện với ý thức quyết tâm và xem thường sức khoẻ người khác, xem thường pháp luật, nên cần xử lý nghiêm tương ứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Xuất phát từ việc gây ra thương tích cho bị hại H, do bị cáo có nhậu rượu bia trong người, không có mâu thuẫn gì với bị hại, khi bị hại H thấy bị cáo say sỉn nên mục đích kè Q về nhà, Q không chịu nên gạt tay của H, làm cho Q té ngã xuống lộ, do bị ngã tức giận nên Q đi thẳng vào nhà của S để tìm dao, mục đích để chém H, Q đến chổ để chén nhà của S, nhìn thấy một con dao bằng kim loại màu trắng dài 23 cm chém trúng vào vay trái của H 01 dao, Q tiếp tục đâm ngược lên phía trên trúng vào cổ, cằm, miệng của H.

Hành vi của Q thể hiện bị cáo có tính chất côn đồ, hung hãn, dùng hung khí nguy hiểm, việc làm này của bị cáo không những gây tổn hại sức khỏe mà có thể nguy hiểm đến tính mạng của bị hại.

Đối với việc áp dụng áp luật: Do bị cáo phạm tội năm 2017 áp dụng Bộ luật dân sự năm 1999 để xét xử đối với bị cáo, tuy nhiên do luật mới năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018) có lợi hơn so với luật cũ năm 1999, nên áp dụng luật năm 2015 để xét xử phù hợp với hướng dẫn nghị Quyết số 41 của Quốc Hội theo hướng có lợi cho bị cáo.

[3] Xét bị cáo chưa tiền án, tiền sự, tuy nhiên, về nhân thân bị cáo vào ngày 07/11/2013, bị cáo đã bị Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 18 tháng đến năm 2015 chấp hành xong. Về hành vi uống rượu đánh nhau, dùng hung khí chém người gây mất an ninh trật tự. Lẽ ra bị cáo phải biết tu tâm dưỡng tính, làm người có ích cho xã hội, cho thấy bị cáo chưa thật sự thay đổi, bằng hành vi vi phạm pháp luật của mình bị cáo không ngừng lại mà có sự can ngăn mới dừng lại hành vi phạm tội. Nên cần có một mức án thật nghiêm để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội sau này.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét tại phiên tòa bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo có tác động người thân bị cáo khắc phục toàn bộ phần bồi thường cho bị hại, đồng thời, cha bị cáo có tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc được hưởng trợ cấp một lần vào ngày 28/12/2012, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị hại có đơn xin bãi nại nên hội đồng xét xử xem xét áp dụng Khoản 2 Điều  51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[4]Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với bị hại Hòa đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu gì thêm phần trách nhiệm dân sự nên không xem xét đến.                       

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 dao bằng kim loại màu trắng dài 23cm, rộng bản dao 06cm.

- 01 áo sơ mi dài tay màu đen, phía trước ngực và hai tay áo có hoa văn màu trắng, có dính màu nâu sậm nghi là máu, trên bâu áo có hiệu Lindu.

Các tang vật trên không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí hình sự bị cáo phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ : Áp dụng: Điểm c Khoản 3 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

1/ Tuyên bố bị cáo Lê Từ Q phạm tội "Cố ý gây thương tích ".

- Xử phạt bị cáo Lê Từ Q 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2017.

2/ Căn cứ: Điều 106, 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự;

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:

- 01 dao bằng kim loại màu trắng dài 23cm, rộng bản dao 06cm.

- 01 áo sơ mi dài tay màu đen, phía trước ngực và hai tay áo có hoa văn màu trắng, có dính màu nâu sậm nghi là máu, trên bâu áo có hiệu Lindu.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp 200.000 đồng (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b  và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


73
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về