Bản án 376/2019/HS-PT ngày 10/07/2019 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 376/2019/HS-PT NGÀY 10/07/2019 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 565/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2018, đối với bị cáo Cao Minh T phạm tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo Cao Minh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HS-ST ngày 28/08/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 527/2019/QĐPT-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019.

- Bị cáo có kháng cáo: Cao Minh T, sinh năm 1987, tại UM, Cà Mau. Nơi cư trú: Khu phố 3, thị trấn thứ 11, huyện AM, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Cao Văn Đ và bà Nguyễn Thị B; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2018 (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

Người bào chữa cho bị cáo: Lut sư Thái Đức G - Đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Người bị hại: Bà Võ Tuyết Nh, sinh năm 1977 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

1/ Bà Nguyễn Cẩm V, sinh năm 1996.

Nơi cứ trú: Khu phố 3, đường MĐ, phường ĐH, thị xã HT, tỉnh Kiên Giang.

2/ Ông Võ Thanh V1, sinh năm 1935.

Nơi cứ trú: ấp NA, xã NH, huyện HD, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Hoàng G1, sinh năm 1983.

Nơi cư trú: Ấp 7, xã NP, huyện UM, tỉnh Cà Mau.

(Đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Ngày 06/02/2018, Cao Minh T điều khiển xe ô-tô mang biển kiểm soát 68A-07970 chở bà Võ Tuyết Nh là người đang chung sống như vợ chồng với T, đi từ Thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Kiên Giang. Khi đến chợ 30 – 4 tại thành phố RG, T và bà Nh ghé vào để mua trái cây. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T chở bà Nh đến thuê phòng số 105, nhà trọ LV thuộc ấp MH, xã ML, huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang do ông Trịnh Huy C và bà Đinh Thị H làm chủ. Khi vào phòng, T và bà Nh có đem theo trái cây và 01 con dao Thái Lan cán vàng để gọt trái cây.

Sau khi tắm xong, bà Nh ngồi trên giường và dùng dao Thái Lan cán vàng gọt trái cây. Lúc này, T ngồi kế bên phải bà Nh, T nhớ lại việc bà Nh vẫn còn qua lại với chồng cũ đã ly hôn nên T hỏi: “Sao sống với anh mà còn qua lại với chồng cũ” thì bà Nh cầm dao chỉ vào mặt T và nói “Tao có tiền, tao sống với mười thằng cũng được”. Nghe vậy, T tức giận dùng tay phải giật lấy con dao Thái Lan cán vàng trên tay bà Nh và đâm liên tiếp nhiều nhát trúng vào người bà Nh cho đến khi lưỡi dao bị gãy, bà Nh ngã gục trên giường. Sau đó, T ném cán dao lại hiện trường và chạy ra báo cho ông C, bà H biết việc T đã đâm bà Nh. Ông C, bà H giúp T đưa bà Nh ra xe ô-tô để T đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang nhưng bà Nh đã tử vong trên đường cấp cứu. Đến 23 giờ cùng ngày, T ra đầu thú tại Công an phường VTT, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang và bị tạm giữ. Đến ngày 07/02/2018, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Kiên Giang khởi tố, ra Lệnh tạm giam.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 105/KL-KTHS, ngày 05/3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Kiên Giang, đối với tử thi Võ Tuyết Nh, kết luận như sau:

1. Các kết quả chính:

- Trên người nạn nhân vùng ngực phải có vết thương kích thước 1,4cm x 0,7cm, bờ mép sắc gọn, sâu vào khoang ngực, chiều hướng từ phải qua trái và chếch xuống dưới. Vùng ngực trái có vết thương kích thước 0,8cm x 0,4cm, bờ mép sắc gọn, sâu vào khoang ngực. Vùng hạ sườn trái có vết thương kích thước 1,5cm x 0,5cm, bờ mép sắc gọn, sâu vào ổ bụng. Các vết thương còn lại chỉ gây rách da nông và sâu đến lớp cơ.

- Tụ máu dưới da và cơ vùng ngực.

- Đứt thủng cơ gian sườn số 2 – 3 và bán phần sụn sườn số 2 bên phải.

- Đứt thủng cơ gian sườn số 1 – 2 bên trái.

- Khoang màng phổi phải có khoảng 2.500ml và 500g máu cục.

- Đứt thủng thùy trên phổi phải dài 1,2cm.

- Đứt mặt trước màng bao tim bên phải dài 1,2cm.

- Khoang màng tim có khoảng 100g máu cục.

- Thủng cung động mạch chủ dài 0,6cm.

2. Nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp do vết thương thấu ngực gây đứt thủng phổi phải và thủng cung động mạch chủ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang quyết định:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Cao Minh T phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Cao Minh T 20 (hai mươi) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06/02/2018.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30/8/2018, bị cáo Cao Minh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Xác định hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm là đúng. Bị cáo và bị hại sống chung như vợ chồng nhưng bị hại lại quan hệ với chồng cũ nên hai người phát sinh mâu thuẫn. Do bị hại chửi nên bị cáo tức giận dùng dao Thái Lan do bà Nh đang dùng gọt trái cây để đâm vào người bà Nh dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, bị cáo không có mục đích giết bà Nh.

Đi diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 20 năm tù về tội “Giết người” là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Gia bị cáo và bà Nh có mâu thuẫn. Việc bị cáo dùng dao đâm bà Nh nhưng không có mục đích giết người. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đã đầu thú, thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Các bị cáo kháng cáo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét lại theo trình tự phúc thẩm.

[2] Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình tố tụng, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc ghen tuông vô cớ và không đồng ý với chỉ một câu nói của bị hại nên khoảng 20 giờ ngày 06/02/2018, tại Nhà trọ LV, thuộc ấp MH, xã ML, huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang, T đã dùng tay phải giật con dao Thái Lan (cán vàng) trên tay bà Nh đang dùng gọt trái cây và đâm liên tiếp vào người bà Nh cho đến khi dao bị gẫy cán và bà Nh ngục ngã trên giường. Hậu quả là bà Nh tử vong trên đường đi cấp cứu.

[3] Hành vi của bị cáo là quyết liệt, có tính chất côn đồ, giữa bị cáo và bị hại chung sống với nhau như vợ chồng, hai người không có mâu thuẫn và bị hại chính là người đã giúp đỡ bị cáo trong hoạt động kinh doanh nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong đời sống mà T đã giết bà Nh, gây hâu quả vô cùng to lớn cho gia đình bị hại, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo vệ tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ.

[4] Khi lượng hình Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Tại phiên toà, bị cáo không cung cấp tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như lời đề nghị của luật sư, chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Minh T.

2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

3. Tuyên bố bị cáo Cao Minh T phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Xử phạt: Bị cáo Cao Minh T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2018.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Cao Minh T để đảm bảo thi hành án.

4. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Cao Minh T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

5. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 10 tháng 7 năm 2019)./.


82
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 376/2019/HS-PT ngày 10/07/2019 về tội giết người

Số hiệu:376/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về