Bản án 376/2019/HNGĐ-ST ngày 09/10/2019 về ly hôn giữa chị D và anh T

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 376/2019/HNGĐ-ST NGÀY 09/10/2019 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ D VÀ ANH T

Ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 155/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2019 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 128/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị H T D, sinh ngày 09-7-1995 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

ĐKHKTT: Tổ 02, ấp V P, xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang.

Tm trú: Số nhà 489, Tổ 22, ấp L H 1, xã L Đ A, huyện C M, tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Anh L T T, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 02, ấp V P, xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, tờ tự khai ngày 02-5-2019 và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị H T D trình bày:

+Về hôn nhân: Chị và anh L T T kết hôn năm 2012, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang số 109/2013 Quyển số 02 ngày 12-7-2013. Sau khi cưới vợ chồng sống bên chồng, năm sau vợ chồng cất nhà ra riêng trên phần đất cha mẹ chồng cho. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, trong làm ăn, tiền bạc dẫn đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng, gia đình không êm ấm, không hạnh phúc. Từ tháng 8/2018 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh T, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với anh L T T.

+Về con chung: Có 02 con chung tên L N A T, sinh ngày 24-7-2012 và L T T, sinh ngày 10-9-2016. Hiện chị đang nuôi con. Nếu ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con.

+Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

+Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 07-8-2019, bị đơn anh L T T trình bày:

+Về hôn nhân: Anh và chị H T D kết hôn năm 2011, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang. Sau khi cưới vợ chồng sống bên chồng, năm sau vợ chồng cất nhà ra riêng trên phần đất cha mẹ chồng cho. Do anh đi xem bóng đá nhiều đêm về khuya, vợ chồng có lời qua tiếng lại, D đi làm công nhân khu công nghiệp B H muốn có cuộc sống riêng tư nên D bỏ về nhà cha mẹ ruột sống khoảng 1 năm nay. D không về thăm nhà, anh có về thăm gia đình bên vợ; cha mẹ vợ có khuyên can nhưng không thành; khi vợ chồng gặp mặt không ai nói với ai câu nào. Anh không đồng ý ly hôn.

+Về con chung: Có 02 con chung tên L N A T, sinh ngày 24-7-2012 và L T T, sinh ngày 10-9-2016. Hiện D đang nuôi con. Nếu ly hôn anh đồng ý để D được tiếp tục nuôi 02 con.

+Về cấp dưỡng nuôi con: Tùy vào khả năng của anh.

+Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Tờ tự khai ngày 12-8-2019, cháu L N A T trình bày: Cháu đang sống với mẹ, cháu được đi học, cháu học đã học xong lớp 1 trường tiểu học A V P, xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang. Nếu cha mẹ cháu Ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát biểu quan điểm như sau:

1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn chị H T D, bị đơn anh L T T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, nguyên đơn chị D có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với nguyên đơn chị D và bị đơn anh T.

[2] Về hôn nhân: Chị H T D và anh L T T kết hôn vào năm 2011. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang số 109/2013 Quyển số 02 ngày 12-7-2013 theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Chị D có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hàn gắn lại tình cảm giữa chị D và anh T nhưng anh T không tham gia hòa giải. Tại biên bản lấy lời khai ngày 07-8-2019, anh T trình bày vợ chồng sống ly thân đã hơn một năm nay. Chị D và anh T không ai có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh T là trầm trọng, không thể đoàn tụ. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 89 và Điều 91 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là chị D được ly hôn với anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Chị H T D và anh L T T có 02 con chung. Anh T đồng ý để chị D được tiếp tục nuôi 02 con.

Xét thấy: Cháu T đã được chị D nuôi dưỡng và chăm sóc cháu chu đáo, cháu được đi học đàng hoàng; cháu T đã tròn 7 tuổi và có nguyện vọng sống với chị D. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 92 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm sinh lý của cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để cho chị D được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp.

Anh L T T có quyền thăm nom con; không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này. Anh T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì chị H T D có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh T theo quy định tại Điều 94 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H T D không yêu cầu anh L T T cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị H T D và anh L T T thống nhất trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Chị H T D và anh L T T thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nguyên đơn chị H T D phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014290 ngày 28-5-2019 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[8] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; nguyên đơn chị H T D, bị đơn anh L T T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khon 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Các Điều 11, 89, 91, 92 và 94 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Xử:

[1] Về hôn nhân: Chị H T D được ly hôn với anh L T T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 109/2013 Quyển số 02 ngày 12-7-2013 của Ủy ban nhân dân xã V H, huyện C T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Chị H T D được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên L N A T, sinh ngày 24-7-2012 và L T T, sinh ngày 10-9-2016.

Anh L T T có quyền thăm nom con; không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này. Anh T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì chị H T D có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh T theo quy định tại Điều 94 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị H T D phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014290 ngày 28-5-2019 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị H T D, bị đơn anh L T T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


119
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 376/2019/HNGĐ-ST ngày 09/10/2019 về ly hôn giữa chị D và anh T

Số hiệu:376/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 09/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về