Bản án 37/2018/HNGĐ-ST ngày 30/08/2018 về hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 37/2018/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2018 VỀ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 30 tháng 8 năm 2018, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 99/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2018/QĐXX- ST ngày 30 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dƣơng Thị L, sinh năm 1991 (có mặt) HKTT: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh B.

Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện H, tỉnh B.

- Bị đơn: Anh Đàm Văn B, sinh năm 1990 ( có mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 20/4/2018, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn (chị Dương Thị L) trình bày: Chị và anh Đàm Văn B kết hôn có được tự do, tự nguyện tìm hiểu, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 06/02/2012. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh B làm dâu ngay và sống chung cùng gia đình. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng ban đầu B thường, hạnh phúc được ba năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, do vậy vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị và anh B đã sống ly thân từ tháng 04 năm 2018 đến nay và đã cắt đứt quan hệ tình cảm không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh B không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh B.

Bị đơn (anh Đàm Văn B) trình bày: anh và chị Dương Thị L kết hôn có được tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tnhư chị L trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, chị L về nhà anh làm dâu ngay và sống chung cùng gia đình. Thời gian vợ chồng sống hạnh phúc từ khi kết hôn được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân anh xác định là do vợ chồng không thể có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh và chị L đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2018 đến nay và đã cắt đứt quan hệ tình cảm, không bên nào quan tâm đến bên nào. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng với chị L không còn, chị L có đơn xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Chị L và anh B đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Đàm Dương Gia L, sinh ngày 06/03/2013, hiện đang ở với anh B và phát triển B thường. Ly hôn, cả chị L và anh B đều đề nghị được nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: Chị L và anh B đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 20/4/2018 của chị Dương Thị L đây xác định là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ tranh chấp: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L và anh Đàm Văn B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã được xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu về việc xin ly hôn của chị L thấy rằng: qua các chứng cứ do các bên xuất trình, lời khai của người làm chứng được biết: vợ chồng chị L, anh B từ khi kết hôn đã có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng tình cảm vợ chồng đã không duy trì phát triển được và sớm phát sinh mâu thuẫn. Xuất phát từ việc hai vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm nên vợ chồng hay cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng do vậy tháng 4 năm 2018 chị L và anh B đã sống ly thân từ đó cho đến nay và đã cắt đứt quan hệ tình cảm, không còn quan tâm đến nhau chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh B đã phát triển trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại tòa án và tại phiên tòa, anh B cũng xác định tình cảm vợ chồng với chị L không còn và anh đồng ý ly hôn với chị L. Vì vậy, cần áp dụng điều 55 Luật hôn nhân gia đình để công nhận việc thuận tình ly hôn giưa chị L và B là phù hợp.

Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của hai bên thấy rằng: chị L và anh B đều xác định vợ chồng có một con chung là Đàm Dương Gia L, sinh ngày 06/03/2013, hiện đang ở với anh B và phát triển B thường. Ly hôn, cả chị L và anh B đều đề nghị được nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: chị L hiện làm nhân viên kinh doanh tại Hà Nội, có thu nhập và nơi làm việc ổn định. Anh B hiện làm công nhân xây dựng không cố định về thời gian và địa điểm nay đây mai đó nên khó có thời gian và điều kiện chăm lo cho con bằng chị L. Tại phiên tòa anh B xác nhận khi vợ chồng ly thân thì việc chăm sóc con chủ yếu do mẹ của anh B chăm sóc do anh B bận đi làm không có thời gian, anh cũng xác nhận việc không cho chị L đón con là vì khi đó cháu bắt đầu vào năm học mới nên muốn cháu ổn định học hành, hơn nữa có lần chị

L đón con 1 tuần về nhà lúc nào cháu cũng đòi xuống chỗ mẹ chơi nên anh B mới không đồng ý để chị L đón con. Qua làm việc với địa phương xác nhận do cháu L còn quá nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ nhiều hơn, do vậy nên giao con chung cho chị L nuôi dưỡng để cháu có đủ điều kiện phát triển toàn diện tốt nhất. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của đứa trẻ cần giao cháu Đàm Dương Gia L, sinh ngày 06/03/2013 cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình cho nên yêu cầu nuôi con của chị L cần được chấp nhận. Anh B được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Xét việc chị L không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với pháp luật, không trái đạo đức xã hội, vì vậy không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: chị L và anh B đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên không xem xét.

Tại phiên tòa hôm nay, KSV phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng: Điều 51, Điều 55 , Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 147,Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của  Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Dương Thị L và anh Đàm Văn B.

Về con chung: Giao anh Đàm Văn B trực tiếp nuôi Đàm Dương Gia L, sinh ngày 06/03/2013. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh B cho đến khi đương sự có yêu cầu. Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Dương Thị L phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0001372 ngày 09/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, Điều 55 , Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Dương Thị L và anh Đàm Văn B.

Về con chung: Giao chị Dương Thị L trực tiếp nuôi Đàm Dương Gia L, sinh ngày 06/03/2013. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L cho đến khi đương sự có yêu cầu. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Dương Thị L phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0001372 ngày 09/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


119
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2018/HNGĐ-ST ngày 30/08/2018 về hôn nhân gia đình

Số hiệu:37/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 30/08/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về