Bản án 36/2020/HS-ST ngày 17/06/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, NINH BÌNH

BẢN ÁN 36/2020/HS-ST NGÀY 17/06/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 17 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở TAND huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Mai Ngọc H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1965 tạiThị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú:Phố H,Thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai H(đã chết) và bà Nguyễn Thị Th; có vợ là Lê Thị T sinh năm 1969 và có 02 con lớn sinh năm 2006 nhỏ sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2.Vũ Văn T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1976 tại Thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Phố P, Thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn K và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Trịnh Kim Th, sinh năm 1985 và có 02 con lớn sinh năm 2005 nhỏ sinh năm 2010. Tiền án: Tại Bản án số 27 ngày 27/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xử phạt Vũ Văn T16.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; truy thu số tiền đánh bạc 1.950.000 đồng; án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Đến nay Vũ Văn Tchưa chấp hành xong hình phạt chính và các quyết định khác tại bản án nêu trên. Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/03/2020 chuyển tạm giam ngày 12/03/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Có mặt.

3.Quách Văn D (Tên gọi khác không), sinh năm 1987 tạị xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Mường; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Văn Q (đã chết) và bà Hoàng Thị S; có vợ là Nguyễn Thị H sinh năm 1981 và có 01 con sinh năm 2015. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 15/09/2019 Công an xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08 phạt tiền 1.000.000 đồng đối với Quách Văn D về hành vi “Đánh bạc”. Đến ngày 23/09/2019Quách Văn D đã nộp xong tiền phạt 1.000.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2020 chuyển tạm giam từ ngày 12/3/2020 đến ngày 15/04/2020 Quách Văn Dđược thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Có mặt.

4.Nguyễn Thanh V (Tên gọi khác: Không) sinh năm 1970 tại thị trấn B, huyện K, tỉnh Hà Nam. Nơi đăng ký HKTT: Xóm 2, thị trấ B, huyện K, tỉnh Hà Nam. Nơi ở hiện nay: phố T, Thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ch (đã chết) và Vũ Thị Th (Đã chết); có vợ là Trương Thị B và có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1999. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 01/08/2019 Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27 phạt tiền 1.500.000 đồng đối với Nguyễn Thanh Vvề hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/08/2019 , Nguyễn Thanh V đã nộp phạt xong số tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/03/2020 chuyển tạm giam ngày 12/03/2020 đến ngày 15/04/2020 Nguyễn Thanh V được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Có mặt.

5.Hoàng Văn L (Tên gọi khác: Không) sinh năm 1974 tại xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Thôn S, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị Đ(Đã chết); có vợ là Nguyễn Thị M sinh năm 1975 và có 02 con lớn sinh năm 2002 nhỏ sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/03/2020 đến ngày 12/03/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trịnh Kim Th, sinh năm 1985; Trú tại:Phố P,Thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Có mặt

- Chị Vũ Thị D, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn 7, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; Trú tại: Thôn Tr,xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt

 - Anh Quách Tiến D sinh năm 1968; Trú tại:Phố H,Thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Ngọc H và Quách Văn D, Nguyễn Thanh V,Vũ Văn T đều là những ngưi quen biết nhau từ trước. Thời gian trước đây khi D, V, T đến nhà H chơi và uống nước thì Mai Ngọc H đã gợi ý mọi người khi nào muốn đánh bạc thì H sẽ liên lạc bố trí địa điểm để mọi người đến gia đình của mình đánh bạc nhằm mục đích thu lợi bất chính, Quách Văn D, Nguyễn ThanhV,Vũ Văn Tđều nhất trí.

Sáng ngày 08/03/2020,Mai Ngọc H đang ở nhà tại Phố H,Thị trấn N, huyện N thì Quách Văn Dsử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Itel có số thuê bao 0977.168.111 gọi đến đin thoại di động nhãn hiệu Coolpad lắp sim 1 số thuê bao 0968.516.573 của H hỏi “Chú ơi có gì không” – Ý D hỏi Hcó ai đánh bạc không,H trả lời “Có nếu rảnh thì lên uống nước chè” – Ý H nói lên đánh bạc. Quách Văn Dliền điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Award, biển kiểm soát 35N7-6561 đi đến nhà H. Sau đó Mai Ngọc H lại sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Coolpad sim 1 số thuê bao 0968.516.573 gọi đến điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Corporation lắp sim số 0915.034.342 của Nguyễn Thanh V nhưng V bận không trả lời. Sau đó V đã gọi lại đến đin thoại di động nhãn hiệu Coolpad lắp sim 2 số thuê bao 0813.157.979 của Mai Ngọc H thì H nói“Đi lên đây uống nước” – Ý Hnói lên đánh bạc thìV hiểu ý liền điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát: 35B2-621.98 đến nhà Hải. Khi D,V đến nhà Mai Ngọc H ngồi uống nước thì H lại tiếp tục sử dụng đin thoại di động nhãn hiệu Coolpad lắp sim 1 số thuê bao 0968.516.573 gọi điện đến đin thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 số thuê bao 0389.522.761 củaVũ Văn Trủ lên uống nước.Vũ Văn Thiểu ý H rủ đến đánh bạc liền điều khiển xe mô tô nhãn hiu Honda Wave, biển kiểm soát: 35N1-043.36 đi đến nhà Hải. Khi thấy mọi người đến đầy đủ thìMai Ngọc Hđã dẫn mọi người xuống dưới bếp mà H đã chuẩn bị 01 chiếu cói được trải sẵn và lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân ký hiệu từ A đến K đưa cho D,V, T làm công cụ đánh bạc.

Trước khi vào đánh bạc Quách VănD, Nguyễn Thanh V, Vũ Văn Tthng nhất đánh bạc bằng hình thức “Đánh phỏm” được thua bằng tiền mỗi ván bài người nào nhất hoặc “Ù” sẽ được ăn cả, người nào nhì phải bỏ ra 10.000đ, người nào ba phải bỏ ra 20.000đ, người nào bét (tức là tư) phải bỏ ra 30.000đ, người nào cháy bài (không có phỏm) phải bỏ ra 40.000đ, nộp cho người về nhất, nếu có người nào ù thì tất cả những người khác phải bỏ ra 50.000đ nộp cho người ù. Mai Ngọc H đã thống nhất với Quách Văn D, Nguyễn ThanhV, Vũ Văn T nếu trong mỗi ván bài có ai “Ù” thì phải bỏ ra số tiền 10.000 đồng để trả tiền thuê địa điểm đánh bạc cho H thì D,V, T đều đồng ý. Quách Văn D, Nguyễn Thanh V, Vũ Văn T bắt đầu ngồi đánh bạc từ 09 giờ ngày 08/03/2020 đến khong 09 giờ 30 phút cùng ngày thì Hoàng Văn L àm nghề hàn xì đến nhà Mai Ngọc H để đo cửa nhà vệ sinh cho gia đình nhà Mai Ngọc H. Thấy Quách Văn D, Nguyễn Thanh V,Vũ Văn T đang đánh bạc nên Hoàng Văn L đã vào tham gia đánh bạc. Lúc này Mai Ngọc H nói với Luật ai “Ù” sẽ phải bỏ ra số tiền 10.000 đồng để nộp cho H thì Luật cũng nhất trí. Quách Văn D, Nguyễn ThanhV,Vũ Văn T và Hoàng Văn Ltiếp tục ngồi đánh bạc. Quá trình đánh bạc do chưa có ai “Ù” nên Mai Ngọc H chưa thu được tiền đến hồi 10 giờ 15 phút cùng ngày đã bị Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an Thị trấn N phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã thu giữ tại chiếu bạc số tiền 6.110.000 đồng; 52 quân bài tú lơ khơ ký hiệu từ A đến K và 01 chiếu cói đôi. Thu của Quách Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel lắp sim có số thuê bao 0364.612.162 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Award biển kiểm soát: 35N7-6561; Thu củaNguyễn Thanh V01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Corporation lắp sim có số thuê bao 0915.034.342 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát: 35B2- 621.98; Thu của Vũ Văn T01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 lắp sim có số thuê bao 0389.522.761 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 35N1-043.36.

Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ trong túi áo rét trên người của Vũ Văn Tsố tiền 18.500.000 đồng; Thu của Hoàng Văn L01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 lắp sim số 0374.639.474 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 31-276L6; Thu củaMai Ngọc H01 điện thoại di động nhãn hiệu Coolpad lắp sim 1 số thuê bao 0968.516.573, lắp sim 2 số thuê bao 0813.157.979. Đối với chiếc sim số thuê bao 0977.168.111 lắp trong chiếc đin thoại di động nhãn hiệu Itel của Quách Văn Dsử dụng liên lạc với Mai Ngọc H vào việc đánh bạc.D khai nhận sau khi đến nhà H thì do điện thoại gặp trục trặc nên mở ra để kiểm tra Pin và đã làm rơi mất chiếc sim nêu trên không rõ vị trí cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Quá trình điều tra đã chứng minh số tiền Quách Văn D, Nguyễn Thanh V , Vũ Văn T và Hoàng Văn L sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.110.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình; Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSNQ-HS ngày 19/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố các bị cáo Mai Ngọc H, Nguyễn ThanhV, Quách VănD,Vũ Văn TvàHoàng Văn Lvề tội: Đánh bạc, áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Mai Ngọc H, Nguyễn ThanhV, Quách VănD,Vũ Văn TvàHoàng Văn Lphạm tội: “Đánh bạc”.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự :

Đề nghị xử phạt bị cáo Mai Ngọc Ht ừ 23.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

* Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự :

Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/3/2020. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

* Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V từ 9 tháng đến 12 tháng cải T không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày UBNDThị trấn N nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án (Trừ cho bị cáo 39 ngày tạm giữ, tạm giam = 117 ngày cải T không giam giữ). Khấu trừ từ 5% đến 7% thu nhập hàng tháng của bị cáo trong thời gian cải T. Giao bị cáo cho UBNDThị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBNDThị trấn N trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

* Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Quách Văn D từ 9 tháng đến 12 tháng cải T không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày UBNDxã V nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án (Trừ cho bị cáo 39 ngày tạm giữ, tạm giam = 117 ngày cải T không giam giữ). Khấu trừ từ 5% đến 7% thu nhập hàng tháng của bị cáo trong thời gian cải T.

Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBNDxã V trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự :

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước

* Về xử lý vật chứng:

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 6.110.000 đồng.

+ Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ ký hiệu từ A đến K; 01 chiếu cói đôi.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel lắp sim có số thuê bao 0364.612.162 thu của Quách VănD; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Corporation lắp sim có số thuê bao 0915.034.342 thu của Nguyễn ThanhV; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 lắp sim có số thuê bao 0389.522.761 thu của Vũ Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Coolpad lắp sim 1 số thuê bao 0968.516.573, lắp sim 2 số thuê bao 0813.157.979 thu của Mai Ngọc H Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo T rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng đã thu giữ. Mặt khác được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận:Ngày 08/03/2020,Mai Ngọc H đã có hành vi sử dụng điện thoại di động để nhận cuộc gọi và liên lạc gọi điện rủ Quách Văn D, Nguyễn Thanh V,Vũ Văn T đến nhà mình ở Phố H, Thị trấn N, huyện N để đánh bạc và bố trí địa điểm đánh bạc tại gian bếp nhà H đồng thời chuẩn bị 01 bộ bài lơ khơ, 01 chiếu cói để Quách Văn D, Nguyễn Thanh V, Vũ Văn T, Hoàng Văn L đánh bạc nhằm mục đích thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ 09 giờ đến 10 giờ 15 phút ngày 08/03/2020 Vũ Văn T, Nguyễn ThanhV, Quách Văn D,Hoàng Văn L đã đánh bạc bằng hình thức “Đánh phỏm” được thua bằng tiền với số tiền sử dụng vào việc đanh bạc là 6.110.000 đồng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự:

Điều 321. Tội đánh bạc:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải T không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

………………………………………… 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng“.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự công cộng được Nhà nước bảo hộ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương.

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án thật nghiêm như vậy mới có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Mai Ngọc H, Quách Văn D, Nguyễn Thanh V,Hoàng Văn L đều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáoVũ Văn Tđã thành khẩn khai báo. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Mai Ngọc H, Quách Văn D, Nguyễn Thanh V,Hoàng Văn L không có tình tiết tăng nặng. Bị cáoVũ Văn Tphải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy các bị cáo Mai Ngọc H, Quách Văn D, Nguyễn Thanh V,Hoàng Văn Lđược áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Vũ Văn T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Thanh V được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này, hành vi phạm tội của các bị cáo mặc dù không có tính chất tổ chức, hình thức phạm tội là đồng phạm giản đơn. Nhưng trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần cá thể hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo. Cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, nhân thân các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thấy:

Đối với bị cáoMai Ngọc Hlà người khởi xướng việc đánh bạc bằng hình thức “Đánh phỏm” được thua bằng tiền đồng thời cũng là người chuẩn bị công cụ, bố trí địa điểm T điều kiện để cho các bị cáo còn lại thực hiện việc đánh bạc. Vì vậy, bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với vai trò thứ nhất.

Đối với các bị cáo Vũ Văn T, Nguyễn Thanh V, Quách Văn D,Hoàng Văn L giữ vai trò là người thực hành tích cực khi được bị cáo H rủ đánh bạc. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò thứ hai trong vụ án này.

Tuy nhiên xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo H,D,V, Luật có nơi cư trú rõ ràng chấp hành tốt giấy báo của cơ quan tiến hành tố tụng vì vậy xét thấy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Thanh V và Quách Văn D áp dụng Điều 36 BLHS xét xử bằng hình phạt không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để các bị cáo tự cải T tại địa phương là đủ.

Đối với bị cáoMai Ngọc H tuy là người khởi xướng và giữ vai trò thứ nhất nhưng bị cáo có nhân thân tốt, chưa chiếm hưởng được gì từ các bị cáo khác. Bị cáo Nguyễn Văn L có nhân thân tốt, giữ vai trò thứ yếu trong vụ án. Vì vậy đối với bị cáo H và bị cáo Luật không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với bị cáo Vũ Văn T đang có 01 tiền án về tội đánh bạc, bị cáo lại tiếp tục phạm tội vì vậy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải T rèn luyện, làm bài học răn đe cho bị cáo và các đối tượng khác.

[3]. Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập:

Đối với các bị cáo Mai Ngọc H và Nguyễn Văn L do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với bị cáo Vũ Văn T, Quách Văn D,Nguyễn Thanh Vcần áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung. Về khấu trừ thu nhập: Xét bị cáo Quách Văn D và Nguyễn Thanh V là lao động tự do, thu nhập thấp vì vậy cần khấu trừ thu nhập với các bị cáo là 5%/tháng trong thời gian chấp hành hình phạt.

[4]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 18.500.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 35N1-043.36 thu của Vũ Văn T. Quá trình điều tra đã chứng minh số tiền 18.500.000 đồng là tài sản chung của vợ chồng Vũ Văn T và chịTrịnh Kim Th sinh năm 1985 ởPhố P,Thị trấn N, huyện N.Vũ Văn T mang theo trong người để khám chữa bệnh bỏng không sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 35N1-043.36 đăng ký mang tên là tài sản hợp pháp của chị Trịnh Kim Th (vợ T)Vũ Văn Tsử dụng xe mô tô trên đi đánh bạc chị Thủy không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại xe mô tô trên và số tiền 18.500.000 đồng theo văn bản ủy quyền của T là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 lắp sim số thuê bao 0374.639.474 thu giữ của Hoàng Văn Luật. Quá trình điều tra xác định điện thoại trên là tài sản hợp pháp của Luật không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Cơ quan điều tra đã trả lại choHoàng Văn Llà phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát: 35B2-621.98 thu giữ của Nguyễn ThanhV. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của chịVũ Thị D sinh năm 1983 ở thôn 7,xã P, huyện N. Hiện đang cư trú tại phố T,Thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình.Nguyễn Thanh V sử dụng xe mô tô trên đi đánh bạc chị Dân không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho chị Dân là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát: 31-276L6 thu của Hoàng Văn Luật. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên đăng ký xe mô tô mang tên Lưu Minh Đ sinh năm 1948 ở số 9, Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Do Hoàng Văn L mua lại của anh Quách Tiến D sinh năm 1968 ởPhố H,Thị trấn N, huyện N. Anh D khai mua lại chiếc xe mô tô trên của một người không quen biết tại thành phố Hà Nội khi mua thỏa thuận bằng miệng không viết giấy tờ mua bán. Cơ quan điều tra đã xác minh thông tin theo địa chỉ của anh Lưu Minh Đại tại Công an phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội kết quả xác định hiện anh Đại không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu làm gì. Cơ quan điều tra đã có Công văn đề nghị Văn Phòng Cơ quan điều tra, Công an tỉnh Ninh Bình xác minh tra cứu vật chứng đối với chiếc xe mô tô trên, kết quả cho thấy chiếc xe mô tô tn không phải là vật chứng của vụ án nào. Do vậy Cơ quan điều tra đã tách chiếc xe mô tô thu giữ của Hoàng Văn L ra để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Award, biển kiểm soát: 35N7-6561 thu của Quách Văn D. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn T ở xã Th, huyện N, tỉnh Ninh Bình. DoD mượn của anh Nguyễn Văn T sinh năm 1984 ở thôn Trung Đông,xã V, huyện N. Anh T khai mua lại chiếc xe mô tô trên của anh Nguyễn Văn T ở xã Thư, huyện N khi mua thỏa thuận bằng miệng không viết giấy tờ mua bán. Cơ quan điều tra đã xác minh thông tin theo địa chỉ của anh Nguyễn Văn Tài kết quả Công an xã Thượng Hòa xác định hiện không có thông tin lưu trữ của anh Nguyễn Văn T theo địa chỉ ghi trong giấy tờ đăng ký xe mô tô. Cơ quan điều tra đã có Công văn đề nghị Văn Phòng Cơ quan điều tra, Công an tỉnh Ninh Bình xác minh tra cứu vật chứng đối với chiếc xe mô tô trên, kết quả cho thấy chiếc xe mô tô trên không phải là vật chứng của vụ án nào. Do vậy Cơ quan điều tra đã tách chiếc xe mô tô thu giữ của Quách Văn D ra để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

- Đối với số tiền 6.110.000 đồng, đây là số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc của các bị cáo cấn tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếu cói đôi xét không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel lắp sim có số thuê bao 0364.612.162 thu của Quách Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Corporation lắp sim có số thuê bao 0915.034.342 thu của Nguyễn Thanh V; 01 đin thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 lắp sim có số thuê bao 0389.522.761 thu của Vũ Văn T; 01 đin thoại di động nhãn hiệu Coolpad lắp sim 1 số thuê bao 0968.516.573, lắp sim 2 số thuê bao 0813.157.979 thu của Mai Ngọc H là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 1. Tuyên bố các bị cáo Mai Ngọc H, Vũ Văn T; Nguyễn ThanhV; Quách Văn D;Hoàng Văn L phạm tội“Đánh bạc”.

* Áp dụng khoản 1,3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáoVũ Văn T 08(tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/3/2020.

Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đ (mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

p dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáoMai Ngọc H 23.000.000đ (Hai mươi ba triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

*Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Quách Văn D 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ (bị cáo được trừ đi 39 ngày tạm giữ tạm giam = 117 ngày cải tạo không giam giữ). Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Khấu trừ mỗi tháng 05% thu nhập của bị cáo Quách Văn D trong thời gian chấp hành án để sung quỹ Nhà nước.

Phạt bổ sung bị cáo Quách Văn D10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

p dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáoNguyễn Thanh V 09(chín) tháng cải T không giam giữ (bị cáo được trừ đi 39 tạm giữ tạm giữ = 117 ngày cải tạo không giam giữ). Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dânThị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dânThị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Khấu trừ mỗi tháng 05% thu nhập của bị cáoNguyễn Thanh V trong thời gian chấp hành án để sung quỹ Nhà nước.

Phạt bổ sung bị cáoNguyễn Thanh V10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 6.110.000đ .

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel lắp sim số thuê bao 0364.612.162 thu của Quách Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Corporation lắp sim có số thuê bao 0915.034.342 thu của Nguyễn ThanhV; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 lắp sim có số thuê bao 0389.522.761 thu của Vũ Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Coolpad lắp sim 1 số thuê bao 0968.516.573, lắp sim 2 số thuê bao 0813.157.979 thu của Mai Ngọc H + Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ ký hiệu từ A dến K’; 01 chiếu cói đôi.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng và ủy nhiệm chi giữa Cơ quan Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Mai Ngọc H, Vũ Văn T, Nguyễn Thanh V, Quách Văn D, Hoàng Văn Lmỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2020/HS-ST ngày 17/06/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:36/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về