Bản án 46/2019/HSST ngày 14/05/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 46/2019/HSST NGÀY 14/05/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Từ ngày 10/5/2019 đến ngày 14/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Trương Thị Đ, sinh năm 1978. STQ: Thôn HL, xã PL, huyện QV, tỉnh BN; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 6/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là con ông Trương Đăng Q và bà Nguyễn Thị P. Gia đình có 04 chị em ruột, bị cáo là thứ nhất. Chồng: Nguyễn Văn V, sinh năm 1977. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2018 đến ngày 12/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; STQ: Thôn HL, xã PL, huyện QV, tỉnh BN; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Đ; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là thứ 2. Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1983. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 09/12/2018 đến ngày 12/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

3. Bùi Công T1, sinh năm 1987. STQ: Thôn HL, xã PL, huyện QV, tỉnh BN; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Là con ông Bùi Văn V và bà Nguyễn Thị K; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1988. Con: Có 01 con sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 09/12/2018 đến ngày 12/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Đức C, sinh năm 1977; STQ: Thôn Hà Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là con ông Nguyễn Đức Cư và bà Nguyễn Thị Kính; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1982. Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2018 đến ngày 12/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

5. Trần Trọng T2, sinh năm 1972; STQ: Thôn Hà Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là con ông Trần Trọng Cao và bà Lê Thị Quanh; Gia đình có 08 anh, chị em, bị cáo là thứ 7; Vợ: Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1977; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2018 đến ngày 12/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

6. Nguyễn Đức H, sinh năm 1975; STQ: Thôn Hà Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là con ông Nguyễn Đức Bạch và bà Trần Thị Lan; Gia đình có 05 anh, chị em, bị cáo là thứ 3; Vợ: Nguyễn Thị Tươi, sinh năm 1978; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 09/12/2018 đến ngày 12/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

7. Hoàng Tiến Th, sinh năm 1986; STQ: Thôn Hà Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là con ông Hoàng Tiến Thư và bà Nguyễn Thị Lệ; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị Đi Nga; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án : Không; Tiền sự: 01- Ngày 24/7/2018 bị Công an tỉnh Bắc Ninh quyết định xử phạt vi phạm hành chính 17.000.000đ về hành vi điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/01 lít khí thở. Bị tạm giữ từ ngày 09/12/2018 đến ngày 12/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

8. Nguyễn Thượng B, sinh năm 1965. STQ: Thôn Hà Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Là con ông Nguyễn Thượng Bàn và bà Nguyễn Thị Tựa (Đều đã chết). Gia đình có 06 anh, chị em, bị cáo là thứ 3. Vợ: Nguyễn Thị Bích, sinh năm 1965. Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1993. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 09/12/2018 đến ngày 12/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

9. Nguyễn Khắc H, sinh năm 1976. STQ: Thôn Hà Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Là con ông Nguyễn Khắc Thướng và bà Nguyễn Thị Hảo. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ 4. Vợ: Phạn Thị Thanh, sinh năm 1985. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 09/12/2018 đến ngày 12/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10h ngày 09/12/2018 bị cáo Đ cùng gia đình đi ăn cỗ nhà người thân ở cùng thôn không khóa cổng và cửa nhà. Khoảng 11h cùng ngày bị cáo T, H và Nguyễn Văn Yến, sinh năm 1972, đều ở thôn Hà Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ và một người đàn ông lạ mặt đến nhà bị cáo Đ ngồi chơi uống nước, sau đó mọi người rủ nhau lên tầng 2 nhà bị cáo Đ đánh bạc. T, H, Yến và người đàn ông lạ mặt đánh bạc B hình thức đánh “Liêng”. Trong quá trình đánh bạc thì T về trước đi ăn cỗ, còn H, Yến và người đàn ông lạ mặt tiếp tục đánh bạc. Khoảng 11h30” cùng ngày sau khi ăn cỗ xong T và bị cáo Th đến nhà Đ đánh bạc cùng với H, Yến và người đàn ông lạ mặt. Quá trình đánh bạc Yến bị thua hết tiền đã đi về nhà trước, còn các đối tượng tiếp tục đánh bạc. Sau đó có bị cáo C, T2, B, H, T1 và đối tượng Trần Trọng Việt, sinh năm 1979 đều ở thôn Hà Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ đến nhà Đ và lên tầng 2 đánh bạc cùng với H, T, Th và người đàn ông lạ mặt. Đến khoảng 12h cùng ngày Đ đi ăn cỗ về nhà lên tầng 2 thấy các đối tượng đang đánh bạc, Đ không ngăn cản mà để cho các đối tượng đánh bạc, Đ sang phòng bên cạnh xem tivi. Khi có nhiều người đến đánh bạc thì C, T1, T2 và T không tham gia đánh bạc B hình thức “Liêng” nữa, mà rủ nhau sang ngồi ở chiếu bên cạnh đánh phỏm ăn tiền B bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Còn lại H, H, Việt, Th và B tiếp tục đánh liêng ăn tiền. Khi các đối tượng đang đánh bạc thì có ông Trần Trọng Vân, sinh năm 1957 ở cùng thôn đến xem đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến 13h30” cùng ngày thì bị Công an huyện Quế Võ và Công an xã Phương Liễu, huyện Quế Võ vào bắt quả tang các đối tượng đánh bạc trên 02 chiếu bạc và thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: 02 chiếc chiếu cói, 02 bộ bài tú lơ khơ từ quân A đến quân K. Thu trên chiếu đánh liêng số tiền là: 8.850.000đ, thu trên chiếu đánh phỏm số tiền là 1.160.000đ. Tổng số thu trên 02 chiếu bạc là 10.010.000đ.

Ngoài ra còn tạm giữ của các đối tượng đánh bạc các tài sản gồm:

1. Nguyễn Đức H: 01 ĐTDĐ OPPO F3 màu trắng, 01 xe máy AirBlade BKS 99E1-45617 và 1.410.000đ.

2. Trần Trọng Việt: 01 ĐTDĐ J7 màu trắng, 01 xe máy BKS 99E1-45617 và 1.410.000đ.

3. Hoàng Tiến Th: 03 ĐTDĐ (01 điện thoại Iphon 6s màu xám; 01 điện thoại Sam Sung Galaxy S8 màu đen và 01 điện thoại Sam sung Note 9 màu đen) và số tiền 6.870.000đ.

4. Nguyễn Thượng B: 01 ĐTDĐ Qmobile NIM 03 màu vàng, 01 xe máy Jupiter BKS 99H3-0767 và số tiền 2.930.000đ.

5. Nguyễn Khắc H: 02 ĐTDĐ (01 điện thoại Samsung S7 màu xám và 01 điện thoại Vertu màu vàng), 01 xe máy Exeter BKS 99E1-28721 và 40.000đ

6. Nguyễn Đức C: 01 ĐTDĐ Sam sung J7 Pro màu đen.

7. Trần Trọng T2: 01 ĐTDĐ Sky Vega màu trắng và 3.035.000đ.

8. Nguyễn Văn T: 02 ĐTDĐ (01 điện thoại Iphon 6s màu xanh và 01 điện thoại Nokia 222 màu đen) và 4.200.000đ.

9. Bùi Công T1: 01 ĐTDĐ Iphon 6s Plus màu vàng và 8.500.000đ.

Tổng số tiền thu giữ là 36.995.000đ, trong đó thu trên người các con bạc là 26.985.000đ, thu trên 02 chiếu bạc là 10.010.000đ. Xác định số tiền dùng vào việc đánh bạc là 17.960.000đ và số tiền không dùng vào việc đánh bạc là 19.035.000đ

Đối với 13 chiếc điện thoại di động và 04 chiếc xe máy các loại các đối tượng không dùng vào việc đánh bạc, Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Võ đã trả lại cho các đối tượng trên.

Quá trình điều tra xác định, khi đi đánh bạc:

Nguyễn Văn T có 4.000.000đ, bỏ ra 500.000đ đánh bạc, khi Công an bắt giữ thu trên người 4.200.000đ, trong đó 700.000đ dùng vào việc đánh bạc còn 3.500.000đ không dùng vào việc đánh bạc.

Trần Trọng T2 có 3.235.000đ bỏ ra 200.000đ đánh bạc, khi Công an bắt giữ thu trên người 3.035.000đ không dùng vào việc đánh bạc.

Nguyễn Đức H có 1.600.000đ dùng để đánh bạc, khi Công an bắt giữ thu trên người 1.410.000đ (Đánh bạc thua 190.000đ).

Hoàng Tiến Th có 6.780.000đ, bỏ ra 1.780.000đ đánh bạc, còn 5.000.000đ không dùng vào việc đánh bạc, khi Công an bắt giữ thu trên người 6.870.000đ, trong đó 1.870.000đ dùng vào việc đánh bạc (Đánh bạc thắng 90.000đ) còn 5.000.000đ không dùng vào việc đánh bạc.

Nguyễn Thượng B có 3.000.000đ dùng đánh bạc, khi Công an bắt giữ thu trên người 2.930.000đ. (Đánh bạc thua 70.000đ).

Nguyễn Khắc H có 840.000đ dùng đánh bạc, khi Công an bắt giữ thu trên người 40.000đ (Đánh bạc thua 800.000đ).

Trần Trọng Việt có 6.300.000đ cầm ở tay tham gia đánh bạc, khi Công an bắt giữ để ở dưới chiếu bạc.

Bùi Công T1 có 8.000.000đ bỏ ra 500.000đ đánh bạc, khi Công an bắt giữ thu trên người 8.500.000đ, trong đó có 500.000đ dùng vào việc đánh bạc và tiền thắng bạc là 500.000đ.

Nguyễn Đức C có 500.000đ đánh bạc, khi Công an bắt giữ không còn tiền trên người.

Đối với Trần Trọng Việt quá trình điều tra xác định Việt có sổ điều trị ngoại trú tâm thần tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định tại Viện pháp y tâm thần Trung ương, đến nay chưa có kết luận giám định. Cơ quan điều tra tách hành vi đánh bạc của Trần Trọng Việt ra khi nào có kết luận giám định sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Văn Yến có 200.000đ đánh bạc lúc đầu cùng với H, T, Th và một người đàn ông lạ mặt. Quá trình điều tra xác định số tiền các đối tượng dùng đánh bạc là 2.970.000đ nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Bản thân Yến chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc gá bạc. Do vậy chưa đủ căn cứ xử lý về hình sự. Công an huyện Quế Võ đã xử phạt hành chính là phù hợp.

Đối với người đàn ông lạ mặt tham gia đánh bạc lúc đầu tại nhà bị cáo Đ, quá trình điều tra chưa làm rõ được. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Đối với Trần Trọng Vân có mặt tại chiếu bạc khi lực lượng Công an vào bắt quả tang, song Vân không tham gia đánh bạc. Do vậy Cơ quan điều tra không xử lý, chỉ nhắc nhở là phù hợp.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại bản cáo trạng số 27/Ctr-VKS ngày 08/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố:

Trương Thị Đ về tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Truy tố các bị cáo Nguyễn Đức H, Hoàng Tiến Th, Nguyễn Văn T, Trần Trọng T2, Bùi Công T1, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thượng B và Nguyễn Khắc H về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi và tranh luận, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, phân tích tính chất mức độ, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo, xác định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với các bị cáo. Khẳng định cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật. Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo: Trương Thị Đ phạm tội: Gá bạc. Các bị cáo Nguyễn Đức H, Hoàng Tiến Th, Nguyễn Văn T, Trần Trọng T2, Bùi Công T1, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thượng B và Nguyễn Khắc H phạm tội: Đánh bạc.

Đề nghị xử phạt:

1. Trương Thị Đ: Áp dụng điểm b Khoản 1, 3 - Điều 322; Điểm s- Khoản 1; Khoản 2 - Điều 51; Điều 65- BLHS: Xử phạt Đ từ 14 đến 20 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và pH chịu thời gian thử thách từ 28 đến 40 tháng, phạt tiền bổ sung bị cáo từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ để sung quỹ Nhà nước;

2. Nguyễn Văn T: Áp dụng Khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt T từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, và pH chịu thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, phạt tiền bổ sung bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

3. Bùi Công T1: Áp dụng Khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt T1 từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, phạt tiền bổ sung bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

4. Nguyễn Đức C: Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1, Khoản 2 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt C từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, phạt tiền bổ sung bị cáo từ  0.000.000đ đến 15.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

5. Trần Trọng T2: Áp dụng Khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt T2 từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, phạt tiền bổ sung bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

6. Nguyễn Đức H: Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt H từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương.

7. Hoàng Tiến Th: Áp dụng Khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 38 của BLHS: xử phạt Th từ 09 đến 12 tháng tù. Phạt tiền bổ sung bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

8. Nguyễn Thượng B: Áp dụng Khoản 1- Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt B từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương.

9. Nguyễn Khắc H: Áp dụng Khoản 1- Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1, Khoản 2 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt H từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 17.960.000đ dùng vào việc đánh bạc.

- Trả lại cho các bị cáo số tiền không dùng vào việc đánh bạc là 19.035.000đ. Cụ thể: T 3.500.000đ. T2 3.035.000đ. Th 5.000.000đ. T1 7.500.000đ. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy 02 chiếu cói, 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng.

Phần tranh luận: Bị cáo Th có ý kiến là bị cáo đã tự khai ra ngày 24/7/2018 bị Công an tỉnh Bắc Ninh quyết định xử phạt vi phạm hành chính 17.000.000đ về hành vi điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/01 lít khí thở. Nay bị cáo lại bị xác định là có tiền sự và đề nghị hình phạt phạt tù giam. Đề nghị HĐXX xem xét lại cho bị cáo. Các bị cáo khác không có ý kiến gì tranh luận và bào chữa. Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội đối với bị cáo Th, căn cứ vào Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì bị cáo Th không đủ điều kiện được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất và được hưởng án treo để tự cải tạo, các bị cáo hứa không vi phạm pháp luật gì nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật của mình và thừa nhận hành vi đó là phạm tội, xin chịu trách nhiệm trước pháp luật. Điều đó hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ và đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên tòa. Như biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật, cùng những tài liệu chứng cứ khác. Đã chứng minh được:

Hồi 13h 30 phút ngày 09/12/2018, tại nhà ở của bị cáo Đ ở thôn Hà Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Đ đã để cho các bị cáo đánh bài ăn tiền trên 02 chiếu, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 17.960.000đ.

Do đó đã có đủ yếu tố để kết luận: Các bị cáo Nguyễn Đức H, Hoàng Tiến Th, Nguyễn Văn T, Trần Trọng T2, Bùi Công T1, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thượng B và Nguyễn Khắc H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Đ là chủ nhà tuy không trực tiếp tham gia đánh bạc và thu tiền hồ, song bị cáo đã để cho các bị cáo đánh bạc tại nhà của mình ở trên 02 chiếu bạc cùng một lúc, với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 17.960.000đ. Nên theo quy định của pháp luật hành vi của bị cáo Đ đã phạm tội “Gá bạc”.

Như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã xâm phạm vào trật tự công cộng, một khách thể quan trọng được BLHS bảo vệ. Tính chất phạm tội gá bạc của bị cáo Đ là nghiêm trọng, còn các bị cáo khác đánh bạc là ít nghiêm trọng. Hậu quả các bị cáo đã làm mất trật tự công cộng, trật tự xã hội. Nêu gương xấu cho người khác, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên, trong đó có chính con em của các bị cáo. Đây là một tệ nạn đang làm nhức nhối trong xã hội, gây dư luận xấu, bức xúc trong nhân dân. Ngoài ra còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật. Là nguyên nhân ảnh hưởng đến hạnh phúc của nhiều gia đình, thậm trí có nhiều gia đình bị tan vỡ vì cờ bạc...

Xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được qui định tại Điểm s - Khoản 1- Điều 51- BLHS. Đối với các bị cáo phạm tội đánh bạc đều là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên các bị cáo này còn được hưởng một tình tiết giảm nhẹ nữa được quy định ở Điểm i- Khoản 1- Điều 51- BLHS. Bị cáo C có bố đẻ là bệnh binh và được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến. Bị cáo H có bố được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng nhất, Huân chương kháng chiến hạng nhì. Bị cáo Đ đã tự nguyện nộp cho Chi cục THA huyện Quế Võ 10.000.000đ tiền phạt. Do vậy bị cáo C, H, Đ còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về nhân thân: Bị cáo Th có một tiền sự về việc ngày 24/7/2018 bị xử phạt vi phạm hành chính. Các bị cáo khác đều có nhân thân tốt, chưa bị xử lý vi phạm pháp luật lần nào.

Đây là một vụ án đồng phạm, nhưng các bị cáo cấu kết với nhau không chặt chẽ, nên chỉ là đồng phạm giản đơn, không phải có tổ chức. Trong đó vai trò của bị cáo T, H là người khởi xướng và cùng đánh bạc với các bị cáo khác. Các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự bằng một hình phạt tù tương xứng với tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Th có một tiền sự ngày 24/7/2018 bị xử phạt vi phạm hành chính, tính đến ngày 09/12/2018 bị cáo phạm tội này chưa quá 06 tháng. Nên theo quy định tại Khoản 2, Điều 2 của Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo.

Bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2- Điều 51- BLHS. Các bị cáo đánh bạc đều là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở Khoản 1- Đ51- BLHS. Đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Nên không cần thiết phải cách ly xã hội, mà cho các bị cáo này được hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Giao các bị cáo được hưởng án treo cho UBND xã nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Đối với các bị cáo Đ phạm tội gá bạc là tội nghiêm trọng, cùng các bị cáo T, Th, T2, T1 phạm tội đánh bạc, xét cần pH áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để sung quỹ Nhà nước. Còn các bị cáo khác xét đơn xin miễn hình phạt bổ sung vì kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương, nên có miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo này.

Về tang vật vụ án: Đối với số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 17.960.000đ, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền thu giữ của các bị cáo tổng số là 19.035.000đ, cụ thể của T 3.500.000đ, T2 3.035.000đ, Th 5.000.000đ, T1 7.500.000đ. Xác định số tiền này các bị cáo không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho các bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với công cụ phạm tội gồm: 02 chiếu cói, 02 bộ bài tú lơ khơ đều đã qua sử dụng, giá trị không đáng kể, nên cần phải tịch thu tiêu hủy.

Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Trương Thị Đ phạm tội: Gá bạc. Các bị cáo Nguyễn Đức H, Hoàng Tiến Th, Nguyễn Văn T, Trần Trọng T2, Bùi Công T1, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thượng B và Nguyễn Khắc H phạm tội: Đánh bạc.

Xử phạt:

1. Áp dụng điểm b Khoản 1, 3 - Điều 322 ; Điểm s- Khoản 1; Khoản 2 - Điều 51; Điều 65- BLHS: Xử phạt Trương Thị Đ 14 (Mười bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách từ 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, phạt tiền bổ sung bị cáo 20.000.000đ để sung quỹ Nhà nước; Xác nhận bị cáo Đ đã nộp 10.000.000đ theo biên lai số 05621 ngày 08/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

2. Áp dụng Khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, và pH chịu thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, phạt tiền bổ sung bị cáo 10.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

3. Áp dụng Khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt Bùi Công T1 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, và pH chịu thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, phạt tiền bổ sung bị cáo 10.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

4. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1, Khoản 2 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt Nguyễn Đức C 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, và pH chịu thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương.

5. Áp dụng Khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt Trần Trọng T2 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, và pH chịu thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, phạt tiền bổ sung bị cáo 10.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

6. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt Nguyễn Đức H 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, và pH chịu thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương.

7. Áp dụng Khoản 1, 3 Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 38 của BLHS: xử phạt Hoàng Tiến Th 08 (Tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ 09/12/2018 đến 12/12/2018. Phạt tiền bổ sung bị cáo 10.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

8. Áp dụng Khoản 1- Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt Nguyễn Thượng B 07 (Bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, và phải chịu thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương.

9. Áp dụng Khoản 1- Điều 321; Điểm i, s- Khoản 1- Điều 51; Khoản 2 - Điều 51; Điều 65 của BLHS: xử phạt Nguyễn Khắc H 07 (Bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, và phải chịu thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương.

Giao các bị cáo được hưởng án treo cho UBND xã Phương Liễu, Quế Võ, Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 17.960.000đ dùng vào việc đánh bạc.

- Trả lại cho các bị cáo số tiền không dùng vào việc đánh bạc. Cụ thể trả cho Nguyễn Văn T 3.500.000đ, Trần Trọng T2 3.035.000đ, Hoàng Tiến Th 5.000.000đ, Bùi Công T1 7.500.000đ. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy 02 chiếu cói, 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 12/3/2019 giữa Cơ quan CSĐT công an tỉnh Bắc Ninh và Chi cục THADS huyện Quế Võ).

Về án phí: Áp dụng Khoản 2- Điều 136- BLTTHS; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


39
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về