Bản án 359/2018/HS-PT ngày 15/11/2018 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 359/2018/HS-PT NGÀY 15/11/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 303/2018/TLPT-HS ngày 14 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Phan Thanh N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, do có kháng cáo của bị cáo Phan Thanh N và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 61/2018/HS-ST ngày 10/08/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo: Phan Thanh N; Tên gọi khác: M; sinh năm 1987, tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn 2A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ học vấn: Đại học sư phạm H; Con ông Phan Thanh D, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966; bị cáo có vợ: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1987; có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Bị hại: Anh Lê Hùng V (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Văn H1 (là bố đẻ của Lê Hùng V), sinh năm 1954.

Địa chỉ: Thôn 2A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phan Thanh D (tên gọi khác: Phan Tiến D), sinh năm 1964.

Địa chỉ: Thôn 2B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

3. Chị Phùng Thị Phương O, vợ bị hại Lê Hùng V.

Địa chỉ: Thôn 2A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị được tóm tắt như sau:

Phan Thanh N đã có giấy phép lái xe hạng B2. Vào khoảng 01 giờ 30 ngày 18/01/2018, sau khi đã uống bia Phan Thanh N điều khiển xe ô tô loại 05 chỗ ngồi biển kiểm soát 47A-126.78 (xe của ông Phan Thanh D) chở Lê Hùng V, Lê Vĩ Đ, Trần Anh T và Nguyễn Trung T1, lưu thông theo hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Khi đi đến Km 1676 + 320m đường Hồ Chí Minh, thuộc địa phận Thôn 2A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, do N điều khiển xe ô tô đi lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi của N nên đã đâm vào đầu xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-100.97 do Trần Trọng N1 điều khiển chở Lê Thị T2 lưu thông theo hướng ngược lại. Sau khi va chạm xe ô tô biển kiểm soát 47A-126.78 do N điều khiển đã mất lái đâm vào gốc cây bên lề đường trái theo hướng Đắk Lắk - Gia Lai, làm Trần Anh T và Nguyễn Trung T1 chết tại chỗ, Lê Hùng V và Lê Vĩ Đ bị thương, hai phương tiện hư hỏng nặng. Sau khi điều trị thương tích đến ngày 25/5/2018, Lê Hùng V đã chết tại Bệnh viện C, thành phố Hồ Chí Minh.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 18/01/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H'Leo xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đường nhựa rộng 11m, phía Bắc đi Gia Lai, phía Nam đi Đắk Lắk. Hai đầu và nơi xảy ra tai nạn giao thông đường cong về phía Tây và hơi dốc từ

hướng Gia Lai đi Đắk Lắk. Hai bên đường có vạch kẻ sơn liền màu trắng phân làn đường dành cho xe thô sơ mỗi bên rộng 02m, ở chính giữa đường có vạch kẻ sơn liền màu vàng phân thành hai phần đường bằng nhau. Cách nơi xảy ra tai nạn 15m về phía Nam có biển báo hiệu đường cong. Lấy mép đường phía Tây (mép đường bên trái theo hướng Đăk Lăk đi Gia Lai) làm mép đường chuẩn, lấy trụ bê tông báo số Km 1676 + 300m, cách điểm đầu vết thắng lốp (10) là 11,2m làm điểm cố định, xác định: Tử thi (1) nằm ngửa trong lề đường, đầu nằm ngay mép đường chuẩn, chân nằm trong lề đất cách mép đường chuẩn 1,1m. Tử thi (2) nằm ngửa trong lề đường đất, đầu tử thi cách mép đường chuẩn 4,7m và cách trục trước bên phải xe ô tô BKS 47A-12.678 (3) là 3,2m. Xe ô tô BKS 47A-12.678 (3) nằm trong mép đường đất phía Tây, đầu xe bị dập nát, đầu xe hướng về phía Bắc, đuôi xe hướng về phía Nam. Trục trước bên phải cách mép đường chuẩn là 2,4m, trục sau bên phải cách đầu tử thi (1) và cách mép đường chuẩn là 2,5m. Trục trước xe ô tô (3) cách gốc cây (8) là 1,35m và cách điểm đầu vết trượt lốp (7) là 3,5m. Xe ô tô tải BKS 47C-100.97 (4) nằm trong lề đường đất phía Tây, đầu xe hướng về phía Nam, đuôi xe hướng về phía Bắc. Trục trước bên trái cách mép đường chuẩn là 2,4m, trục sau bên trái cách mép đường chuẩn là 0,7m. Vùng va chạm giữa xe ôtô BKS: 47A-126.78 với xe ô tô tải BKS: 47C- 100.97 từ điểm đầu vết nhớt (5) cách mép đường chuẩn là 3,7m cho đến chạm mép phanh lốp (10) trong diện 85cm; điểm cuối vùng va chạm là mép ngoài vết phanh lốp (10), ngang với vết nhớt (5), cách mép đường chuẩn 3,05m (thuộc phần đường của xe ôtô tải biển kiểm soát 47C-100.97).

Tại bản kết luận pháp y tử thi số 51 ngày 26/01/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân tử vong của Trần Anh T là choáng đa thương/tai nạn giao thông.

Tại bản kết luận pháp y tử thi số 52 ngày 26/01/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Trung T1 là choáng đa thương/tai nạn giao thông.

Tại bản kết luận pháp y thương tích số 455 ngày 29/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Lê Hùng V bị đa thương, dập não, tụ máu não, gãy xương quay 2 bên và chấn thương mặt phải, tỉ lệ thương tích là 95%.

Tại Bản kết luận pháp y tử thi số 216 ngày 12/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân tử vong của Lê Hùng V là hôn mê, suy hô hấp không hồi phục do di chứng chấn thương sọ não, dãn não thất và nhồi máu não.

Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 456 ngày 29/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đăk Lăk kết luận: Lê Vĩ Đ bị đa thương, gãy khung chậu, tỉ lệ thương tích là 20%.

Tại Bản tóm tắt bệnh án điều trị nội trú số 164 ngày 01/3/2018 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk, thể hiện: Phan Thanh N vào viện lúc 04 giờ 26 phút ngày 18/01/2018, xét nghiệm máu nồng độ cồn trong máu là 0,612 g/l.

Tại Biên bản kết luận số 157 ngày 21/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ea H’Leo kết luận: Xe ô tô tải BKS 47C-100.97 bị hư hỏng trị giá 95.000.000 đồng. Xe ô tô BKS 47A-126.78 bị hư hỏng trị giá 360.000.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại là 455.000.000đ (bốn trăm năm mươi lăm triệu đồng).

Quá trình điều tra xác định: Xe ô tô BKS: 47A-126.78 không đăng ký giám sát hành trình. Tại Công văn số 172 ngày 02/02/2018 của Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk trả lời là không có dữ liệu về hành trình và tốc độ của xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-100.97 thời điểm trước và trong khi xảy ra tai nạn giao thông.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2018/HS-ST ngày 10/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.

Tuyên xử: Bị cáo Phan Thanh N 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589, 590, 591 của Bộ luật dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường cho anh Lê Vĩ Đ 20.000.000 đồng, bồi

thường cho gia đình người bị hại Lê Hùng V 140.000.000 đồng; bồi thường cho gia đình người bị hại Nguyễn Trung T1 số tiền 98.000.000 đồng; bồi thường cho gia đình người bị hại Trần Anh T số tiền 70.000.000 đồng; bồi thường cho bà Đào Thị N2 30.000.000 đồng. Anh Lê Vĩ Đ, bà Đào Thị N2, ông Phan Thanh D và đại diện gia đình người bị hại Nguyễn Trung T1, Trần Anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không giải quyết.

Bị cáo Phan Thanh N phải tiếp tục bồi thường cho gia đình người bị hại Lê Hùng V 381.186.138 đồng.

Hàng tháng, bị cáo Phan Thanh N phải cấp dưỡng nuôi con của anh Lê Hùng V là Lê Huyền T3 sinh ngày 06/9/2016 số tiền 1.390.000 đồng cho đến khi cháu T3 đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày từ ngày 18/1/2018. Vì lợi ích của cháu Lê Huyền T3, chị Phùng Thị Phương O là mẹ cháu T3 có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Bị cáo Phan Thanh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 19.059.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường thiệt hại tính mạng của anh Lê Hùng V và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con của anh Lê Hùng V.

Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 17/8/2018, bị cáo Phan Thanh N kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 10/9/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk có Quyết định kháng nghị số 11/QĐ-VKS-P7 với nội dung: bản án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS, tuyên phạt bị cáo Phan Thanh N 06 năm tù là thiếu nghiêm minh và không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm này. Về trách nhiệm dân sự cần buộc bị cáo và ông Phan Thanh D là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe ô tô BKS: 47A-126.78 liên đới bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại Lê Hùng V. Đối với việc buộc bị cáo phải cấp dưỡng nuôi con của bị hại Lê Hùng V là cháu Lê Huyền T3 số tiền 1.390.000 đồng/tháng là bất lợi cho bị cáo, cần áp dụng Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình để buộc bị cáo phải cấp dưỡng 1/2 số tiền nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo giữ nguyên nội dung ý kiến theo đơn kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định kháng nghị số số 11/QĐ- VKS-P7 ngày 10/9/2018 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 61/2018/HS-ST ngày 10/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Lê Hùng V là ông Lê Văn H1 trình bày sau khi anh V chết gia đình bị ảnh hưởng nhiều về tâm lý, khó khăn về kinh tế. Gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 140.000.000 đồng, số tiền còn lại 381.186.138 đồng, ông yêu cầu bị cáo và ông Phan Thanh D liên đới bồi thường.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Phùng Thị Phương O trình bày: Chị đồng ý với số tiền theo bản án sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 381.186.138 đồng. Đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chị không có ý kiến gì với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát, chị yêu cầu bị cáo cấp dưỡng cho Lê Huyền T3 theo quy định với số tiền là 700.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo Phan Thanh N và cho rằng Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ. Tuy nhiên, bản án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS, tuyên phạt bị cáo N 06 năm tù là chưa tương xứng với mức độ, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Về trách nhiệm dân sự án sơ thẩm đã đưa ông D (chủ xe) vào tham gia tố tụng nhưng không buộc bị cáo và ông Phan Thanh D là chủ sở hữu chiếc xe liên đới bồi thường các khoản thiệt hại cho gia đình bị hại Lê Hùng V là thiếu sót. Đối với việc buộc bị cáo phải cấp dưỡng nuôi con của bị hại Lê Hùng V là cháu Lê Huyền T3 số tiền 1.390.000 đồng/tháng là không đúng với quy định tại Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình, cần buộc bị cáo phải cấp dưỡng 1/2 số tiền nêu trên. Do vậy, đề nghị HĐXX phúc thẩm: Áp dụng các Điều 355, 356, 357 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, sửa án sơ thẩm về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo 07 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 18/01/2018, bị cáo Phan Thanh N điều khiển xe ô tô BKS: 47A-126.78 đã gây tai nạn làm Trần Anh T và Nguyễn Trung T1 chết tại chỗ, Lê Hùng V chết tại bệnh viện và Lê Vĩ Đ bị thương tích là 20%, hai phương tiện hư hỏng nặng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Làm chết ba người trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự năm là hoàn toàn có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, kháng nghị tăng mức hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Hội đồng xét xử xét thấy: Mức hình phạt 06 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp. Bởi bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả và được gia đình các bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

[3] Xét kháng nghị của của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk về phần trách nhiệm dân sự mà cấp sơ thẩm giải quyết buộc bị cáo Phan Thanh N phải tiếp tục bồi thường cho gia đình người bị hại Lê Hùng V số tiền 381.186.138 đồng mà không buộc ông Phan Thanh D là chủ ở hữu hợp pháp xe ô tô biển kiểm soát 47A – 126.78 là chưa phù hợp nên cần buộc bị cáo Phan Thanh N và ông Phan Thanh D phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho gia đình bị hại Lê Hùng V số tiền 381.186.138 đồng còn lại. Trong đó bị cáo Phan Thanh N bồi thường 190.593.069 đồng, ông Phan Thanh D bồi thường 190.593.069 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm buộc bị cáo Phan Thanh N phải cấp dưỡng nuôi con của anh Lê Hùng V là Lê Huyền T3, sinh ngày 06/9/2016 số tiền 1.390.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T3 đủ 18 tuổi là chưa phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình, bởi khi anh V chết thì chị Phùng Thị Phương O là vợ đang còn sống phải có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung nên bị cáo chỉ phải cấp dưỡng phần anh V nhưng cấp sơ thẩm xử buộc bị cáo bồi thường số tiền hàng tháng 1.390.000 đồng/tháng là cao so với quy định tại Điều 71 Luật hôn nhân gia đình. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho Lê Huyền T3 số tiền 700.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T3 đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày từ ngày 18/01/2018. Tại phiên tòa hôm nay chị O vợ anh V cũng đồng ý số tiền cấp dưỡng 700.000 đồng/tháng.

Do đó, cần chấp nhận kháng nghị của của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk sửa bản án sơ thẩm về phần dân sự.

Xét thấy, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại trong đó có số tiền 140.000.000 đồng của bị hại V. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến gì đối với số tiền đã bồi thường cho bị hại. Bị cáo Phan Thanh N và ông Phan Thanh D không có ý kiến gì về trách nhiệm dân sự và đồng ý liên đới bồi thường số tiền 381.186.138 đồng cho gia đình bị hại Lê Hùng V.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Thanh N và ông Phan Thanh D phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường thiệt hại tính mạng của anh Lê Hùng V.

Bị cáo Phan Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con của anh Lê Hùng V.

- Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí HSPT.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Thanh N và kháng nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo Phan Thanh N của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 61/2018/HS-ST ngày 10/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo về phần hình phạt đối với bị cáo.

Chấp nhận kháng nghị của của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk về phần trách nhiệm dân sự. Sửa bản án Hình sự sơ thẩm số 61/2018/HS-ST ngày 10/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo về phần trách nhiệm dân sự.

[1] Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh N 06 (sáu) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 589, 590, 591, 601 của Bộ luật dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Phan Thanh N đã bồi thường cho gia đình bị hại Lê Hùng V số tiền 140.000.000 đồng; Buộc bị cáo Phan Thanh N và ông Phan Thanh D phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho gia đình bị hại Lê Hùng V số tiền 381.186.138 đồng còn lại. Trong đó bị cáo Phan Thanh N bồi thường 190.593.069 đồng, ông Phan Thanh D bồi thường 190.593.069 đồng.

Buộc bị cáo Phan Thanh N phải cấp dưỡng cho chị Phùng Thị Phương O để nuôi dưỡng cháu Lê Huyền T3, sinh ngày 06/9/2016 là con của bị hại Lê Hùng V số tiền 700.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 18/01/2018 cho đến khi cháu T3 đủ 18 tuổi.

Áp dụng Điều 357 Bộ luật dân sự để tính lãi suất phát sinh trong giai đoạn thi hành án khi có đơn yêu cầu.

[3] Về án phí:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Thanh N và ông Phan Thanh D mỗi người phải chịu 9.529.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường thiệt hại cho anh Lê Hùng V.

Bị cáo Phan Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con của anh Lê Hùng V.

- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phan Thanh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự.


132
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về