Bản án 35/2020/HS-PT ngày 03/06/2020 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 35/2020/HS-PT NGÀY 03/06/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 03 tháng 6 năm 2020, tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2020/TLPT-HS ngày 06 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Toà án nhân dân thị xã Đông Triều.

- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 12/10/1984 tại Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: xã A S, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (Đã chết) và bà Nguyễn Thị M, có vợ Nguyễn Thị L (đã ly hôn), có 03 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại không kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957; nơi cư trú: xã A S, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 27/9/2019, Nguyễn Văn T đi chơi về nhà ở thôn Đa Đôi, xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh thấy tiếng ồn ào từ quán bia Chung Oanh (Cách nhà T khoảng 30 mét do bà Phan Thị Nh làm chủ quán), T đi bộ sang quán bia mục đích nhắc nhở mọi người trong quán nói nhỏ. Khi đến quán thấy ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 trú tại thôn Đa Đôi, xã An Sinh, ông Đào Văn H, sinh năm 1952, ông Trần Văn T, sinh năm 1962 và anh Lê Văn Kh, sinh năm 1970 cùng trú tại thôn Đa, Đôi, xã An Sinh và bà Nh đang ngồi uống bia, T đến nói: “Các ông nói bé thôi, để tôi còn nghỉ”, thì ông Kh có nói lại: “Người ta nói gì kệ người ta, ảnh hưởng gì đến mày”, T liền chửi ông Kh, rồi xảy ra to tiếng, cãi chửi nhau, ông T bảo T hỗn, láo thì T tiếp tục cãi chửi nhau với ông T và ông Kh. Thấy vậy ông H can ngăn, kéo ông Kh ngồi xuống, rồi đẩy T đi về đến sân nhà T. Sau khi ông H quay lại quán để tiếp tục uống bia và nói chuyện với mọi người. Lúc này ông Kh và ông H đi về, thì có ông Đặng Đình T, sinh năm 1955, trú tại thôn Đa Đôi, xã An Sinh đến quán vào ngồi cùng ông H và ông T. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, vẫn nghe thấy tiếng ồn ào từ quán bia Chung Oanh, T bực tức vào nhà bếp lấy 01 con dao (Dạng dao phay dài khoảng 30 cm, bản dao kim loại màu đen, rộng khoảng 07cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 10cm, cài vào cạp quần phía sau lưng rồi đi sang quán bia Chung Oanh, mục đích nếu xảy ra cãi nhau thì dùng dao dọa họ. T có những lời nói thô tục, xúc phạm mọi người trong quán, thấy vậy ông T liền nói: “Ơ thằng này láo” thì T bước về phía ông T, thấy vậy, ông H đứng dậy can ngăn, dùng tay đẩy vào vùng vai của T và bảo T về đi ngủ. Khi ông H đẩy T, T lùi ra phía của quán khoảng 01 mét thì dùng tay trái túm vào vùng áo phía trước ông H kéo về phía T, đồng thời dùng tay phải rút con dao ở cạp quần phía sau lưng giơ lên chém 01 nhát vào vùng cổ bên trái của ông H, lúc này ông H đang đứng chếch phía bên phải của T, cách T khoảng 70 cm và trong tư thế hơi cúi do bị T túm áo, ông H giơ tay trái lên gạt vào tay của T theo hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, làm lưỡi dao chém nhẹ vào mặt bên trái cổ ông H, rồi chém vào phần mặt ngoài đùi trái gây thương tích. Ngay sau đó T cầm dao bỏ chạy, ông H được mọi người đưa đến Trung tâm y tế thị xã Đông Triều điều trị đến ngày 07/10/2019 được ra viện.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số: 606/19/TgT, ngày 13/11/2019 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Quảng Ninh phần kết luận đối với thương tích của ông Nguyễn Văn H như sau: Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo vết thương phần mềm mặt bên cổ trái: 03%; Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên mặt ngoài đùi trái: 09%. Kết luận: Căn cứ vào bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số: 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 12% (Mười hai phần trăm). Các vết thương nêu trên do vật sắc tác động trực tiếp gây nên, theo chiều hướng như đã mô tả ở trên.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Theo lời khai của T, sau khi chém ông H, Tính đã vất con dao trên đường bỏ chạy, Cơ quan điều tra đã truy tìm, nhưng không thu giữ được.

Với nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Toà án nhân dân thị xã Đông Triều đã căn cứ vào:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định miễn án phí cho bị cáo T và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/3/2020, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo, xin được hưởng án treo với các lý do: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình; Đã bồi thường khắc phục hậu quả; Bản thân có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, hiện là hộ nghèo; bị cáo hiện đã ly hôn vợ và đang một mình nuôi dưỡng 03 con còn nhỏ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh cho rằng:

Bị cáo Nguyễn Văn T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là hộ nghèo, hiện một mình nuôi 03 con nhỏ; Có nhiều tình tiết giảm nhẹ; Phạm tội do đã có nhắc nhở, cãi nhau với nhóm người cùng ngồi uống bia với bị hại; Nên đề nghị chấp nhận kháng cáo của Bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, với thời gian thử thách theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo T làm trong thời hạn, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng không kháng cáo và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo luật định.

[2] Về tội danh: Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T đều khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo T phù hợp với chính lời khai của người bị hại, những người làm chứng, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/9/20199, tại quán bia Chung Oanh thuộc thôn Đa Đôi, xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, chỉ vì ông Nguyễn Văn H can ngăn xô xát giữa T và ông Trần Văn T, mà T đã có hành vi dùng dao (loại dao phay) chém một nhát vào vùng cổ bên trái ông H, bị ông H gạt ra, nên dao tiếp tục chém xuống đùi bên trái ông H, gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 12% (Mười hai phần trăm).

Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành có nhận thức xã hội và nhận thức pháp luật, vì nguyên cớ nhỏ nhặt đã không làm chủ được hành vi của mình. Bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 24 (hai mươi bốn) tháng tù là có căn cứ.

Tuy nhiên, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo T cũng một phần xuất phát từ việc nhóm người (trong đó có người bị hại) gây ồn ào. Ban đầu bị cáo đã nhắc nhở, nhưng đến lần thứ hai thì tranh cãi căng thẳng nên xảy ra xô xát; Sau khi phạm tội bị cáo cũng đã bồi thường cho người bị hại và được Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; Trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, là hộ nghèo, bản thân bị cáo đã ly hôn vợ, hiện một mình đang phải nuôi 3 con nhỏ, nếu buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì các con nhỏ không có người chăm sóc. Bản thân bị cáo lần đầu phạm tội, từ trước tới nay chưa bao giờ vi phạm pháp luật. Nội dung đơn trên đã được Trưởng thôn và Ủy ban nhân dân xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xác nhận và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.

Do bị cáo có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; Hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn; có nơi cư trú rõ ràng và ổn định; Do đó, có thể xem xét chiếu cố cải biện pháp thi hành án, cho bị cáo được hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung – thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cần được giữ nguyên.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận và bị cáo thuộc diện hộ nghèo, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 357 - Bộ luật tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2 , 5 Điều 65 - Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban Nhân dân xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã An Sinh, thị xã Đông Triều trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


39
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về