Bản án 34/2019/HS-ST ngày 26/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 34/2019/HS-ST NGÀY 26/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Mai Thị L (tên gọi khác: BĐ) - sinh năm 1992, tại V - Khánh Hòa; trú tại thôn BT 2 - xã B - huyện V - tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Quốc D và bà Trần Thị C; chung sống như vợ chồng với anh Lê Văn Đ và có 01 con sinh năm 2008; tiền án: Bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 08/2013/HSST ngày 22/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2014, nộp xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/11/2013) và 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 60/2015/HSST ngày 04/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa (chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2016 và chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm); tiền sự: Không; nhân thân: Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC ngày 13/7/2012 của Công an xã B - huyện V - tỉnh Khánh Hòa) và bị xử phạt 06 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 149/2019/HS-ST ngày 02/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố T - tỉnh Khánh Hòa; bị tạm giam ngày 14/8/2019. Có mặt.

- Bị hại:

+ Bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1938; trú tại tổ dân phố số 9 - thị trấn G - huyện V - tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

+ Chị Võ Thị Ngọc Th - sinh năm 1982; trú tại tổ dân phố số 9 - thị trấn VG - huyện V - tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Quang T1 - sinh năm 1987; trú tại tổ dân phố số 7 - thị trấn G - huyện V - tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 25/8/2017, Mai Thị L đi lang thang ở khu vực thị trấn G - huyện V - tỉnh Khánh Hòa, khi đi ngang qua nhà bà Phùng Thị T2 ở tổ dân phố số 9 - thị trấn G - huyện V - tỉnh Khánh Hòa thì thấy có chiếc võng đặt trên thềm nhà nên L vào võng nằm ngủ. Đến khoảng 5 giờ 00 sáng ngày 26/8/2017, L thức dậy thấy cửa cổng ra vào nhà không khóa và thấy chiếc xe đạp hiệu MARTIN của bà Nguyễn Thị T mua cho con trai bị bệnh tâm thần sử dụng, đang dựng ở thềm nhà bà T2 không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. L lén lút dắt chiếc xe đạp ra đến cổng thì bị anh Nguyễn Quang T1 phát hiện ngăn chặn và bắt L dắt xe để lại vị trí cũ. Sau đó, L đi ra đường nhìn vào nhà bà Nguyễn Thị T ở bên nhà bà T2 thấy có chiếc xe đạp điện, hiệu ASAMA của chị Võ Thị Ngọc Th đang để ở phòng khách nên nảy sinh ý định trộm cắp. Quan sát thấy nhà không có người, cửa cổng và cửa hông mở nên L lén lút đi vào nhà và dắt xe đạp ra cửa trước. Đang lúc thực hiện hành vi trộm cắp thì bị bà T và chị Th phát hiện nên L chạy trốn vào phòng ngủ trong nhà, bà T và chị Th bắt giữ L và báo cho Công an thị trấn G đến lập biên bản sự việc và biên bản tạm giữ đồ vật.

Sau đó, Mai Thị L bỏ trốn, đến ngày 12/3/2019 L phạm tội mới, bị Công an thành phố T - tỉnh Khánh Hòa bắt giữ, đồng thời bị khởi tố bị can và bị tạm giam tại Công an thành phố T.

Tại Kết luận định giá tài sản số 42/2017/KL-TTHS ngày 12 tháng 9 năm 2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa kết luận các tài sản trộm cắp có giá trị như sau:

+ 01 (một) chiếc xe đạp điện, hiệu ASAMA, trị giá 2.730.000đồng.

+ 01 (một) chiếc xe đạp dán mạc MARTIN, trị giá 160.000đồng.

Tổng cộng: 2.890.000đồng (hai triệu tám trăm chín mươi nghìn).

Bà Nguyễn Thị T và chị Võ Thị Ngọc Th đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không còn yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSVN, ngày 27 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử bị cáo Mai Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Mai Thị đã khai nhận hành vi trộm cắp của mình như đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mai Thị L theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46 và khoản 3 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 1999, tuyên phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, tuy vắng mặt bị hại bà Nguyễn Thị T, chị Võ Thị Ngọc Th; người làm chứng anh Nguyễn Quang T1. Nhưng họ đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Vì vậy, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vạn Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Mai Thị L đã khai nhận hành vi của mình thực hiện việc trộm cắp xe đạp của bà T và xe đạp điện của chị Th như nội dung bản Cáo trạng số 32/CT-VKSVN ngày 27 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với Biên bản sự việc do Công an thị trấn G - huyện V lập ngày 26/8/2017, Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ 00 ngày 26/8/2017, tại nhà bà Phùng Thị T2 và nhà bà Nguyễn Thị T ở tổ dân phố số 9 - thị trấn G - huyện V - tỉnh Khánh Hòa, Mai Thị L đã có hành vi trộm cắp chiếc xe đạp điện hiệu ASAMA của chị Võ Thị Ngọc Th trị giá 2.730.000đồng và chiếc xe đạp dán mạc MARTIN của bà Nguyễn Thị T trị giá 160.000đồng. Tổng cộng là 2.890.000đồng (hai triệu tám trăm chín mươi nghìn).

Theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

c) Tái phạm nguy hiểm;

…”

Bị cáo là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tái phạm, chưa được xóa án tích nhưng nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Nên với hành vi của bị cáo như trên, bị cáo Mai Thị L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

[4] Hành vi của bị cáo Mai Thị L đã xâm hại quyền sở hữu về tài sản của người khác và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương.

Bị cáo là người đã hai lần bị kết án mỗi lần là 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 08/2013/HSST ngày 22/01/2013 và Bản án số 60/2015/HSST ngày 04/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa) chưa được xóa án tích. Bên cạnh đó, tuy bị cáo không có tiền sự nhưng về nhân thân thì năm 2012 bị cáo đã một lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành chính trộm cắp tài sản (theo Quyết định số 06/QĐ-XLHC ngày 13/7/2012 của Công an xã B - huyện V - tỉnh Khánh Hòa) và sau khi thực hiện hành vi phạm tội lần này thì bị cáo còn có lần khác phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 06 năm tù (Bản án số 149/2019/HS-ST ngày 02/7/2019). Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo lại bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra, xử lý tội phạm. Chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu, không chịu tiếp thu cải tạo, không chịu làm ăn lương thiện, coi thường kỷ cương pháp luật. Nên cần phải xử lý nghiêm minh với mức án cao mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng Điều 18 và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g - p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2019/HS-ST ngày 02/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố T - tỉnh Khánh Hòa đã xử phạt bị cáo Mai Thị L 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 12/3/2019, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt tù của bản án này. Vì vậy, cần phải tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 1999, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án và bị cáo được trừ thời gian đã chấp hành hình phạt tù của bản án trước theo quy định của pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại là bà Nguyễn Thị T và chị Võ Thị Ngọc Th vắng mặt nhưng căn cứ lời khai của bà T và của chị Th có tại hồ sơ vụ án thì bà T và chị Th đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo Mai Thị L phải bồi thường hoặc còn có yêu cầu gì khác, nên Tòa không xem xét.

- Về án phí: Bị cáo Mai Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 200.000đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 138, Điều 18, điểm g - p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Mai Thị L.

- Xử phạt bị cáo Mai Thị L (tên gọi khác: BĐ) 02 (hai) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 06 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2019/HS-ST ngày 02/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố T - tỉnh Khánh Hòa bị cáo chưa chấp hành xong, thành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 14/8/2019. Bị cáo được trừ thời gian đã chấp hành hình phạt tù của bản án trước từ ngày 12/3/2019 đến ngày 13/8/2019.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xét về việc bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa bị cáo Mai Thị L đối với bà Nguyễn Thị T và đối với chị Võ Thị Ngọc Th.

- Về án phí: Bị cáo Mai Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn).

- Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2019/HS-ST ngày 26/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:34/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vạn Ninh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về