Bản án 34/2019/HS-ST ngày 05/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 34/2019/HS-ST NGÀY 05/04/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 05 tháng 4 năm 2019 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố B (TP. B), tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Văn V; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1983; tại: Lâm Đồng; NĐKNKTT và nơi cư trú: Thôn X, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 04/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông: Nguyễn Văn M (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Ng; vợ: Hà Thị D, sinh năm 1991; có 02 người con, sinh năm 2009 và năm 2011, hiện đang ở tỉnh Quảng Ngãi; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/03/2012 bị TAND huyện B xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 06/2012/HSST; ngày 12/04/2012, bị TAND huyện D xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 20/2012/HSST; tổng hợp hình phạt với Bản án số 06/2012/HSST ngày 06/03/2012 của TAND huyện B thành 05 năm tù. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/08/2015, đã chấp hành xong án phí, còn phần trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu. Đến nay đã xóa án tích. Bị bắt tạm giam từ ngày 12/07/2018 đến nay, có mặt 2/ Họ và tên: Nguyễn Văn L; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1992; tại: Lâm Đồng; NĐKNKTT và nơi cư trú: Thôn X, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: Làm vườn; con ông: Nguyễn Văn S (đã chết); Con bà: Cao Thị Nh; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/03/2012 bị TAND huyện B xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 06/2012/HSST. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/04/2014 (đã xóa án tích). Bị bắt tạm giam từ ngày 12/07/2018 đến nay, có mặt.

- Bị hại:

Chị Vũ Thị Ngọc Ng, sinh năm 1976, trú tại: Số M, đường N, phường L, TP. B, tỉnh Lâm Đồng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Anh Nguyễn Đăng Th, sinh năm 1961, trú tại: Tổ N, Thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, có mặt;

Anh Đinh Cao T, sinh năm 1992; trú tại: Số nhà Y, đường N, phường L, TP.B, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt;

Anh Lê Văn Ng, sinh năm 1971, trú tại: Số Z, đường N, phường L, TP.B, tỉnh Lâm Đồng, có mặt;

Chị Trần Thị Thanh H, sinh năm 1987, trú tại: Thôn N, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, có mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Lâm Thị L, sinh năm 1970, trú tại: Số V, đường L, Phường H, TP. B, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt;

Chị Ngô Thị Thanh S, sinh năm 1966, trú tại: Thôn M, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Anh Trần Ngọc D, sinh năm 1986, trú tại: Thôn B, xã L, TP.B, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 24/01/2018 đến ngày 05/07/2018 Nguyễn Văn V cùng Nguyễn Văn L đi trộm cắp tài sản tại địa bàn TP. B và huyện B, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 24/01/2018, L điều khiển xe mô tô biển số: 49K1-208.52 chở V đi trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà chị Vũ Thị Ngọc Ng, ở địa chỉ số X, đường N, phường L, TP. B, thấy nhà chị Ng khóa cửa nên V dùng thang tre trèo lên vị trí có camera quan sát, dùng mũ lưỡi trai đang đội chụp lên camera để tránh bị phát hiện rồi dùng kìm mang theo từ trước để bẻ tai khóa cửa. Sau khi bẻ được khóa cửa, V và L vào nhà chị Ng lấy được 14 bao cà phê nhân với tổng trọng lượng là 840kg. Sau đó, cả hai mang cà phê đến cửa hàng thu mua cà phê Ph ở tổ N, thị trấn L, huyện B, bán cho ông Nguyễn Đăng Th được 20.000.000 đồng. Số tiền có được, cả hai đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 98A ngày 13/10/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP. B xác định: 840 kg cà phê nhân trị giá 30.660.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT công an TP. B tạm giữ được 01 mũ lưỡi trai màu xanh đen là tài sản cá nhân của V dùng vào việc trộm cắp tài sản, riêng cái kìm các bị cáo đã vứt tại khu vực suối Nước Đục, phường L, TP. B nên không thu hồi được. Đối với số cà phê nêu trên, ông Th xác định hàng ngày thu mua của rất nhiều người nên không nhớ đã mua số lượng cà phê trên từ các bị can nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Vũ Thị Ngọc Ng Yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 30.660.000 đồng trị giá tài sản trộm cắp.

Vụ thứ hai: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/04/2018, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số: 49K1-208.52 chở Nguyễn Văn V đến kho chứa cà phê của cửa hàng Ph ở tổ M, thị trấn L, huyện B của ông Nguyễn Đăng Th để trộm cắp tài sản. V dùng 02 cái khóa loại 22mm, bẻ gãy tai khóa cửa kho chứa cà phê rồi cùng L vào trong kho lấy được 14 bao cà phê nhân với tổng trọng lượng là 1074,7kg. Sau đó cả hai mang cà phê bán cho bà Ngô Thị Thanh S, trú tại thôn V, xã L, huyện B được số tiền 39.162.000 đồng. Số tiền có được cả hai đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 79 ngày 12/09/2018 của Hội đồng định giá huyện B xác định: 1074,7kg cà phê nhân trị giá 37.721.970 đồng.

Về vật chứng: Số cà phê này sau khi mua bà S đã bán cho người khác nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Đối với 02 cái khóa loại 22mm mà V dùng để bẻ khóa kho vào để trộm cắp tài sản: sau khi phạm tội bị can V đã vứt tại khu vực cầu suối nước đục thuộc phường Lộc Phát, TP. B nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Đăng Th yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền trị giá tài sản bị trộm cắp là 37.721.970 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 24 giờ đêm ngày 25/4/2018, Nguyễn Văn L tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số: 49K1-20852 chở Nguyễn Văn V mang theo ba lô chứa 01 xà beng, 01 chiếc kìm để đi trộm cắp tài sản, khi đến cửa hàng điện thoại P của anh Đinh Cao T, tại số V đường N, phường L, TP. B, cả hai thấy cửa tiệm khóa ngoài nhưng chỉ khóa ổ phía trên, còn ổ phía dưới gần mặt đất không khóa. V và L đã cùng nhau kéo mép cửa bên dưới, rồi lấy đá chèn vào thành lỗ trống. V chui vào bên trong tiệm, mở tủ lấy trộm được số tiền Việt Nam là 2.000.000 đồng và 25 điện thoại di động các loại.

Sau khi lấy được tài sản, L và V mang một số điện thoại đến các cửa hàng điện thoại tại huyện B và huyện D bán được số tiền khoảng 6.000.000 đồng. Số tiền này, L và V đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 98A ngày 13/10/2018 của Hội đồng định giá TP. B xác định: Tổng giá trị tài sản của 25 ĐTDĐ các loại của bị hại bị chiếm đoạt là 33.525.000 đồng.

Về vật chứng: L và V không nhớ được địa chỉ các cửa hàng này nên Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chỉ thu giữ được 12 ĐTDĐ các loại: trong đó có 06 ĐTDĐ các bị can lấy của anh T, tương đương với giá trị tài sản là 9.520.000 đồng; 01 ĐTDĐ Nokia màu trắng đen, gắn sim số 0163.774.8926 là của bị can V; 01 ĐTDĐ Itel it 1508 màu vàng đồng là của bị can L; còn lại 04 ĐTDĐ gồm: 01 ĐTDĐ Iphone 3, màu đen, 01 ĐTDĐ Sam sung màu trắng, màn hình cảm ứng bị nứt, 01 ĐTDĐ Zip 84 màu đỏ đen, loại bàn phím và 01 ĐTDĐ Nokia 105, màu đỏ, loại bàn phím các bị cáo khai nhận chiếm đoạt của anh T nhưng anh T khai nhận đây không phải là tài sản của anh T.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Đinh Cao T yêu cầu bồi thường số tiền tương đương với 19 ĐTDĐ chưa thu hồi được là 24.005.000 đồng và số tiền mặt 2.000.000 đồng bị lấy trộm.

Vụ thứ tư: Khoảng 15 giờ ngày 03/07/2018, L điều khiển xe mô tô biển số 49K1-20852 chở V đến nhà chị Trần Thị Thanh H, tại thôn X, xã L, huyện B để trộm cắp tài sản. L dừng xe đứng ngoài cảnh giới, còn V đi ra phía sau nhà, nhặt 01 thanh sắt gần đó cạy cửa, đi vào nhà lấy trộm được số tiền 6.000.000 đồng đựng trong con heo đất, 01 sợi dây chuyền vàng có mặt dây hình ngôi sao và 02 chiếc nhẫn vàng (loại nhẫn cưới). Sau đó, V và L mang dây chuyền đến tiệm vàng V tại số K đường N, phường Y, TP. B, bán cho chị Lâm Thị Ngọc L, trú tại số V đường L, phường Y, TP. B được 3.792.000 đồng. Số tiền có được, cả hai đã tiêu xài hết.

Theo Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 98 ngày 12/09/2018 và số 106 ngày 24/09/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B xác định: Giá trị tài sản (vàng) là 7.670.800 đồng. Tổng số tiền các bị cáo chiếm đoạt trong lần này là 13.670.800 đồng (6.000.000 đồng + 7.670.800 đồng).

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT công an TP. B đã thu giữ từ chị Lâm Thị Ngọc L 01 sợi dây chuyền có mặt dây hình ngôi sao bằng vàng, trả lại cho người bị hại là chị Trần Thị Thanh H. Đối với hai nhẫn cưới bằng vàng do L bán tại tiệm vàng V với giá 1.200.000 đồng, nhưng chị Lê Thị Mỹ Kh là nhân viên tiệm vàng không thừa nhận có mua số lượng vàng trên từ bị cáo nên không thu hồi được tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Lâm Thị Ngọc L không yêu cầu bồi thường dân sự. Người bị hại là chị Trần Thị Thanh H yêu cầu bồi thường giá trị tài sản đối với 02 nhẫn vàng không thu hồi được là 3.810.000 đồng và số tiền mặt là 6.000.000 đồng.

Vụ thứ năm: Rạng sáng ngày 05/07/2018, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số 49K1-20852 chở V, mang theo 01 cái xà beng đến nhà anh Lê Văn Ng, tại địa chỉ số A đường N, phường L, TP. B để trộm cắp tài sản. Do trời mưa nên V nói với L đi về trước, lúc nào lấy trộm được tài sản thì V sẽ báo cho L. V một mình đi đến ngồi tại vườn chuối sát cạnh nhà anh Ng để đợi anh Ng đi ra ngoài. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi anh Ng đi ra khỏi nhà, V nhảy qua hàng rào đi vào nhà anh Ng. Lúc này, V gọi điện thoại cho L, nói: Đi ra quán sửa xe lấy xe đi, lúc nào tôi làm xong thì đón tôi. V dùng xà beng cạy bung cửa sắt phía trước rồi đi vào nhà. V đi lên lầu dùng xà beng dài 83cm phá két sắt lấy được số tiền 157.000.000 đồng cùng một số tờ ngoại tệ. V cất xà beng ở phía sau tủ lạnh nhà anh Ng rồi lấy tài sản trộm cắp được mang ra ngoài. Khi đi ra sân, V gọi điện thoại báo cho L đến đón. L điều khiển xe đến, V nhảy ra khỏi hàng rào nhà anh Ng ngồi lên xe để L chở đi. Trên đường đi, V nói cho L biết đã lấy được số tiền 30.000.000 đồng và chia cho L 15.000.000 đồng và một số ngoại tệ trộm cắp được gồm: 04 tờ Đô la Mỹ mệnh giá 01 USD, 04 tờ Đô la Mỹ mệnh giá 02 USD, 01 tờ Đô la Mỹ mệnh giá 05 USD, 01 tờ tiền Campuchia mệnh giá 100 Riel, 01 tờ Đôla Úc mệnh giá 05 đô la. Số tiền còn lại là 142.000.000 đồng, V trả nợ cho anh Trần Ngọc D, trú tại thôn T, xã L, TP. B số tiền 50.000.000 đồng, số còn lại tiêu xài hết, còn lại số tiền 10.000.000 đồng.

Theo Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 98A ngày 13/10/2018 của Hội đồng định giá TP. B xác định: tổng giá trị ngoại tệ mà các bị can chiếm đoạt của anh Ng là 476.015 đồng. Tổng giá trị tài sản mà V và L trộm cắp của anh Lê Văn Ng là 157.476.015 đồng Về vật chứng: Cơ quan CSĐT công an TP.B tạm giữ và trả lại số tiền 75.690.000 đồng cùng ngoại tệ cho bị hại là anh Lê Văn Ng (trong đó, tạm giữ từ anh Trần Ngọc D giao nộp số tiền 50.000.000 đồng, tạm giữ từ bị cáo L số tiền 15.690.000 đồng, tạm giữ từ bị can V số tiền 10.000.000 đồng. Ngoài ra Cơ quan CSĐT công an TP. B tạm giữ của bị can Nguyễn Văn V 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đỏ, đen, số máy 077924, (riêng biển số: 49K1-20852 là do bị can L nhặt được tự gắn vào xe mô tô), là tài sản cá nhân của V; 01 cái xà beng dài 83cm, một đầu nhọn, một đầu dẹp là công cụ phương tiện phạm tội của các bị cáo. Tạm giữ của Nguyễn Văn L 01 Chứng minh nhân dân số 250818274 mang tên Nguyễn Văn L và 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM – Angle, màu đỏ, đen, biển số: 49P4- 5667.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Lê Văn Ng yêu cầu bồi thường thêm số tiền chưa thu hồi được là 85.000.000 đồng. Đối với chiếc két sắt bị hỏng, anh Ng không yêu cầu bồi thường.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã nêu, không có thắc mắc khiếu nại đối với nội dung bản cáo trạng. Các bị cáo nhận thức hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra:

Bản Cáo trạng số 22/CT-VKS.BL ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân TP. B, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn L về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 24/01/2018 đến ngày 05/07/2018, tại địa bàn thành phố B và huyện B, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Văn V và Nguyễn Văn L đã cùng nhau thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản của anh Lê Văn Ng, anh Đinh Cao T, chị Vũ Thị Ngọc Ng, chị Trần Thị Thanh H và ông Nguyễn Đăng Th với tổng giá trị là 275.053.785 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn V và Nguyễn Văn L đã vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo L từ 08 đến 09 năm tù; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo V từ 09 đến 10 năm tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về phần dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai màu xanh đen; 01 chiếc xà beng dài 83 cm, một đầu nhọn, một đầu dẹp. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 02 điện thoại của các bị cáo; 04 điện thoại các loại không xác định được chủ sở hữu; 01 xe máy của V. Trả lại cho L 01 chứng minh nhân dân; 01 xe máy của L nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TP. B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, Nguyễn Văn V và Nguyễn Văn L đã cùng nhau thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản của anh Lê Văn Ng, anh Đinh Cao T, chị Vũ Thị Ngọc Ng, chị Trần Thị Thanh H và ông Nguyễn Đăng Th với tổng giá trị là 275.053.785 đồng. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn V và Nguyễn Văn L đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng L trách nhiệm hình sự, do vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định trong Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo: Các bị cáo thành khẩn khai báo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo V có mẹ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo 05 lần phạm tội, mỗi lần giá trị trên 2.000.000đ nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét về nhân thân đối với V: Ngày 06/03/2012 bị TAND huyện B xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 06/2012/HSST; ngày 12/04/2012, bị TAND huyện D xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 20/2012/HSST; tổng hợp hình phạt với Bản án số 06/2012/HSST ngày 06/03/2012 của TAND huyện B thành 05 năm tù. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/08/2015, đã chấp hành xong án phí, còn phần trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu. Đến nay đã xóa án tích. Đối với L: Ngày 06/03/2012 bị TAND huyện B xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 06/2012/HSST. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/04/2014 (đã xóa án tích).

Xét thấy: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa. Trong vụ án này các bị cáo đều là người thực hiện tội phạm một cách tích cực, riêng đối với lần trộm cắp thứ 5 V chia cho L 15.000.000 đồng và một số ngoại tệ số tiền còn lại là 142.000.000 đồng V giữ lại tiêu xài cá nhân. 05 lần trộm cắp nêu trên V là người đề xướng và thực hiện, L giúp sức tích cực, do vậy cần áp dụng mức hình phạt đối với V cao hơn đối với L.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Vũ Thị Ngọc Ng không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 30.660.000đ, đây là yêu cầu tự nguyện cần chấp nhận.

Anh Nguyễn Đăng Th yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 37.721.970đ, cần chấp nhận buộc L và V liên đới bồi thường cho anh Th số tiền 37.721.970đ theo phần: L 18.860.985đ, V 18.860.985đ.

Anh Đinh Cao T yêu cầu các bị cáo bồi thường 26.005.000đ cần chấp nhận buộc L và V liên đới bồi thường cho anh T số tiền 26.005.000đ theo phần: L 13.002.500đ, V 13.002.500đ.

Chị Trần Thị Thanh H yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 9.810.000đ, cần chấp nhận buộc L và V liên đới bồi thường cho chị H số tiền 9.810.000đ theo phần: L 4.905.000đ, V 4.905.000đ.

Anh Lê Văn Ng yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền còn thiếu là 81.310.000đ. Trong vụ này L được V chia số tiền 15.000.000đ và một số ngoại tệ. Cơ quan Điều tra đã thu của L 15.690.000đ và toàn bộ số ngoại tệ trả cho chủ sở hữu. Do vậy số tiền 81.310.000đ còn lại cần buộc bị cáo V có nghĩa vụ trả cho anh Ng.

Trong vụ án này chị Lâm Thị Ngọc L không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 3.792.000 đồng chị mua sợi dây chuyền do các bị cáo trộm cắp nên không xem xét.

[4]. Xử lý vật chứng: Đối với 01 mũ lưỡi trai màu xanh đen; 01 chiếc xà beng dài 83 cm, một đầu nhọn, một đầu dẹp xét không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu trắng đen thu của bị cáo V; 01 điện thoại di động Itel it 1508 màu vàng đồng của L; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Taurus màu đỏ, đen, số máy 077924, gắn biển số 49K1-20852 là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 01 điện thoại di động Iphone 3 màu đen; 01 điện thoại di động (ĐTDĐ) Sam sung màu trắng, màn hình cảm ứng bị nứt; 01 (ĐTDĐ) Z 84 màu đỏ đen loại bàn phím; 01(ĐTDĐ) Nokia 105 màu đỏ loại bàn phím không xác định được chủ sở hữu cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 01 chiếc xe mô tô hiệu SYM-Angle màu đỏ đen, biển số 49P4-5667 thu của L không liên quan tới vụ án cần trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn L trả lại cho bị cáo L.

[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

 QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 10 (mười) năm tù thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2018.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 09 (chín) năm tù thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2018.

2/ Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 buộc Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn V liên đới bồi thường cho bị hại: Anh Nguyễn Đăng Th số tiền 37.721.970đ theo phần: L 18.860.985đ, V 18.860.985đ; anh Đinh Cao T số tiền 26.005.000đ theo phần: L 13.002.500đ, V 13.002.500đ; chị Trần Thị Thanh H số tiền 9.810.000đ theo phần: L 4.905.000đ, V 4.905.000đ; buộc Nguyễn Văn V bồi thường cho anh Lê Văn Ng số tiền 81.310.000đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu số tiền lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ lưỡi trai màu xanh đen; 01 chiếc xà beng dài 83 cm, một đầu nhọn, một đầu dẹp. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Taurus màu đỏ, đen, số máy 077924, gắn biển số 49K1-20852; 01 điện thoại di động Iphone 3 màu đen; 01 điện thoại di động Sam sung màu trắng, màn hình cảm ứng bị nứt; 01 điện thoại di động Z 84 màu đỏ đen loại bàn phím; 01 ĐTDĐ Nokia 105 màu đỏ loại bàn phím; 01 điện thoại di động Itel it 1508 màu vàng đồng; 01 điện thoại di động Nokia màu trắng đen. Trả lại 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn L cho bị cáo L. Trả lại cho bị cáo L 01 chiếc xe mô tô hiệu SYM-Angle màu đỏ đen, biển số 49P4-5667 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

4/ Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo V phải nộp 5.903.924đ; bị cáo L phải nộp 1.838424 đ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo, riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 34/2019/HS-ST ngày 05/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:34/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 05/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về