Bản án 332/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 332/2017/HSST NGÀY 29/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 324/2017/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 324/2017/QĐXXHS- ST ngày 18 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn H - sinh năm 1995.

Nơi sinh: thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Nơi cư trú: Số 39/44 phố C, phường Đ, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp

Dân tộc: Kinh Quốc tịch: Việt Nam 

Tôn giáo: Không Văn hóa: 7/12 Con ông: Trần Văn N - sinh năm 1975. Con bà: Phạm Thị T - sinh năm 1977 

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18-6-2017, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 27- 6-2017 cho đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Nam Định.

 ( bị cáo Trần Văn H có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoang 22 giờ ngay 17-6-2017, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cổng trường trung học phổ thông T, đường N, phường P, thành phố Nam Định phát hiện Trần Văn H đang đứng một mình có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ trong túi quần đùi bên phải của H đang mặc 01 gói nhỏ ni-lon màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (H khai là ma túy đá vừa mua). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng và đưa H cùng người làm chứng về trụ sở công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.

Cơ quan Canh sat điều tra - Công an tỉnh Nam Đinh đa trưng cầu giam đinh vât chưng thu giư. Tai bản kết luân giám đinh số 529/GĐKTHS ngay 20-6-2017 của Phong ky thuât hinh sư - Công an tinh Nam Đinh kết  luân: Vật chứng thu giữ là chất ma túy, loại chất ma túy là Methamphetamine, co trọng lương 1,233 gam (Một phẩy hai trăm ba mươi ba gam).

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Văn H khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng đồng thời khai nhận nguồn gốc gói ma túy như sau: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 17-6-2017 H đi xe taxi từ nhà đến khu vực ngõ 168 đường B, phường K, thành phố Nam Định rồi đi bộ một mình vào trong ngõ mua của một nam thanh niên tên V ở số nhà 11/3/168 đường B, phường K, thành phố Nam Định 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng. H cất gói ma túy vào túi quần đùi bên phải rồi tiếp tục thuê xe taxi trước đó đến khu vực trước cổng trường trung học phổ thông T, đường N, phường P, thành phố Nam Định. Khi H xuống xe taxi và định đi bộ về thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho H, tài liệu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã tiến hành xác minh: trú tại số nhà 11/3/168 đường B, phường K, thành phố Nam Định là Đoàn Anh V, sinh năm 1974. Hiện tại V đã bị khởi tố bị can, tạm giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trong một vụ án khác. Quá trình đối chất giữa V và H thì V không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho H. Do tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Bản cáo trạng số 334/QĐ-KSĐT ngày 14-9-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Văn H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999: xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù; Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Văn H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

 [2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 22 giờ ngày 17-6-2017, Trần Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,233 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu vực trước cổng trường trung học phổ thông T, đường N, phường P, thành phố Nam Định. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

 [3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện tội phạm, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

 [4] Về hình phạt: Xét bị cáo Trần Văn H phạm tội lần đầu, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để xử phạt bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14 quy định áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng có lợi cho người phạm tội, Hội đồng xét xử sẽ vận dụng quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

 [5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Trần Văn H tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

 [6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

 [7] Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1999 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20- 6-2017 của Quốc hội khóa 14.

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 18 tháng tù (mười tám tháng tù). Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 18-6-2017.

2. Xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-9-2017).

3. Án phí:

- Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Văn H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


56
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về