Bản án 33/2019/HSST ngày 16/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 33/2019/HSST NGÀY 16/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay, ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở TAND huyện M mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 33/2019/TLST-HS, ngày 01 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2019/QĐXXST-HS, ngày 05/8/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1952, nơi sinh: huyện LN, Tỉnh Hà Nam; Nơi ĐKHKTT: Bản C, xã AT, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản C, xã AT, huyện M, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trình độ văn hoá: 7/9; Con ông: Nguyễn Văn D (đã chết) và con bà Trần Thị M (đã chết); Bị cáo có 7 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo sống chung như vợ chồng với ông Phạm Quang L và có 02 người con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là 03 ngày (từ ngày 22/4/2019 đến ngày 25/4/2019). Ngày 25/4/2019 Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khong 15 giờ ngày 20/4/2019, Nguyễn Thị M đang ở nhà của gia đình tại bản C, xã AT, huyện M thì có một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ vào nhà hỏi bán ma túy cho M, M đã mua của người này 01 gói Heroine có khối lượng 0,23 gam được gói bằng mảnh nilon màu trắng và 02 viên hồng phiến (Methamphetamine) màu hồng, có khối lượng 0,2 gam với giá 150.000đ. Sau khi việc mua bán diễn ra người đàn ông đó đi đâu không rõ. M lấy dao lam cắt chia gói Heroine ra thành 03 gói nhỏ khác nhau rồi dùng mảnh giấy bạc màu vàng gói lại, còn 02 viên hồng phiến thì lấy mảnh nilon màu hồng gói lại, sau đó M cất giấu toàn bộ số ma túy vào trong nhà vệ sinh của gia đình, mục đích là để chữa bệnh cho vật nuôi. Hồi 11 giờ ngày 22/4/2019, tổ công tác Công an huyện Mường Ảng vào nhà yêu cầu M nếu có ma túy thì mang ra giao nộp, M tự giác vào nhà vệ sinh lấy toàn bộ số ma túy đang cất giấu ra giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ toàn bộ số ma túy của M.

Theo biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 23/4/2019 của Công an huyện Mường Ảng và Kết luận giám định số 451/GĐ-PC09, ngày 01 tháng 5 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị M gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine;

- Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vất chứng thu giữ của Nguyễn Thị M gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

- Khối lượng vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị M gồm: 0,23 gam chất bột màu trắng và 0,2 gam viên nén màu hồng.

- Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 09, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

- Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKS-MA ngày 30/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mường Ảng để xét xử bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo M: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1,2,5 điều 65 của BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu để tiêu hủy 0,2gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi trích mẫu gửi giám định.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo M phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo M thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng cũng như bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nội dung vụ án:

Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị M đã khai và công nhận: Hồi 11 giờ ngày 22/4/2019, tại nhà ở của gia đình thuộc bản C, xã AT, huyện M, tỉnh Điện Biên, Nguyễn Thị M đã tàng trữ trái phép 0,23 gam Heroine và 0,2 gam Methamphetamine, mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy để chữa bệnh vật nuôi của gia đình. Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như cáo trạng số 31/CT-VKS-MA, ngày 30/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để chữa bệnh cho vật nuôi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo tàng trữ trái phép 0,23 gam Heroine và 0,2 gam Methamphetamine đủ định lượng buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 249 BLHS quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine,…,Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam

i) Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này".

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 5 năm tù, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.

Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, đã tiếp tay cho các loại tội phạm gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị M được bố mẹ sinh ra tại huyện LN, tỉnh Hà Nam nuôi dưỡng cho ăn học hết lớp 7. Đến năm 1973 chuyển đến sinh sống tại huyện M, tỉnh Điện Biên. Từ năm 1973 đến năm 1993 làm cán bộ tại nông trường huyện M. Năm 1983 bị cáo sống chung như vợ chồng với ông Phạm Quang L, sinh năm 1937 và có 02 người con chung. Ma túy không phải là thuốc chuyên dùng để chữa bệnh cho vật nuôi, bị cáo nghe người khác nói ma túy (heroine và hồng phiến) chữa được bệnh cho vật nuôi, do vậy bị cáo đã mua và tàng trữ ma túy để chữa được bệnh cho vật nuôi. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để chữa bệnh cho vật nuôi của gia đình bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo; tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi tổ công tác Công an huyện Mường Ảng vào nhà bị cáo để tiến hành kiểm tra bị cáo đã tự nguyện giao nộp và khai báo về số ma túy khi chưa bị Công an phát hiện (Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại khoản 2 Điều 51 BLHS “Đầu thú”), đồng thời bản thân bị cáo đã cao tuổi (67 tuổi) sức khỏe yếu, nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của BLHS năm 2015. Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015.

Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo đã cao tuổi. Để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động trong cộng đồng xã hội và cũng thể hiện chính sách giáo dục hơn trừng trị của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật hình sự phạt tù cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách để bị cáo có điều kiện làm ăn sinh sống, nuôi bản thân và gia đình.

Bị cáo M với nguồn thu nhập chính là lương hưu, không có thu nhập nào khác, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.

Đi với người đàn ông dân tộc Mông mà Nguyễn Thị M khai bán ma túy cho M vào ngày 20/4/2019, ngoài lời khai của M không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có đủ điều kiện để xác minh làm rõ.

* Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS: Tịch thu để tiêu hủy 0,2 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi trích mẫu gửi giám định.

* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo M phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[2] Quyết định truy tố của VKSND huyện Mường Ảng; ý kiến của vị đại diện VKS, ý kiến của bị cáo qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

[3] Trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/8/2019).

Giao bị cáo Nguyễn Thị M cho UBND xã AT, huyện M, tỉnh Điện Biên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã AT để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị M thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện M, tỉnh Điện Biên thì Ủy ban nhân dân xã AT - huyện M - tỉnh Điện Biên có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Mường Ảng để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

Trường hợp Nguyễn Thị M thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS: Tịch thu để tiêu hủy 0,2 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi trích mẫu gửi giám định.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Ảng và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng lập ngày 31/7/2019).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo M phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Phiên tòa kết thúc cùng ngày, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


27
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về