Bản án 33/2017/HSST ngày 07/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 33/2017/HSST NGÀY 07/12/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2017/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Lê Mạnh H, sinh năm 1980 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Số 17/8/267 L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Khu bờ hồ, tổ dân phố C2, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; con ông Lê Huy H và bà Lê Thị T; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 28 tháng 7 năm 2017, đến ngày 29 tháng 7 năm 2017 chuyển tạm giam. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy nên sáng ngày 28 tháng 7 năm 2017, Lê Mạnh H điều khiển xe máy nhãn hiệu Wayman, biển kiểm soát 16H8-3423 từ nhà lên khu vực đường tàu Mê Linh thuộc quận L, thành phố Hải Phòng để mua của một người phụ nữ không quen biết 03 gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng với giá 150.000 đồng rồi cất vào túi áo ngực bên trái và đi về nhà. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đi đến ngõ 97 đường K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội

- Công an quận Hải An kiểm tra, phát hiện. H khai nhận 03 gói giấy kích thước 0,5cmx1,5cm bên trong có chứa chất bột màu trắng là heroine.

Theo Kết luận giám định số 942/PC54(MT) ngày 28 tháng 7 năm 2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng: Chất bột thu giữ của Lê Mạnh H là ma túy, có trọng lượng 0,3595gam, là loại heroine.

Tại Bản Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 30 tháng 10 năm 2017, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Lê Mạnh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Cáo trạng, khẳng định Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.

Trong lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị:

Về tội danh và điều luật áp dụng: Giữ nguyên như truy tố của bản Cáo trạng. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Mạnh H từ 24 đến 30 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy còn lại sau giám định. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16H8-3423, hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hải An tiếp tục tạm giữ để xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28 tháng 7 năm 2017, Lê Mạnh H bị bắt quả tang đang cất giữ, cất giấu bất hợp  pháp  trong  túi  áo  ngực bên  trái 03  gói  giấy  nhỏ  màu  trắng,  kích  thước 0,5cmx1,5cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, theo kết luận giám định là ma túy, có trọng lượng 0,3595, là loại heroine. Heroine là chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội, nằm trong Danh mục I, STT 20 Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ. Việc cất giữ, cất giấu chất ma túy của bị cáo không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Bị cáo không có tình tiết định khung tăng nặng. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Bố đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba; vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và hướng dẫn tại điểm c mục 1 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04 tháng 8 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về hình phạt chính: Tuy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ nhưng bản thân là đối tượng nghiện ma túy. Năm 2005, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đối với tiền án này, tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người không có ý thức sửa chữa sai lầm, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xử bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe. Tuy nhiên, khi lượng hình, cũng cần căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, áp dụng khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định mức hình phạt theo hướng có lợi cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Heroine là chất ma túy cấm lưu hành, vì vậy cần tịch thu, tiêu hủy bì thư sau giám định bên trong có heroine.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wayman, biển kiểm soát 16H8-3423, hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An tiếp tục tạm giữ để xác minh, làm rõ, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, chưa có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xét

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Lê Mạnh H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28 tháng 7 năm 2017.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy bì thư có dấu hiệu niêm phong số 942/PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong có heroine (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30 tháng 10 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

Về án phí:

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Mạnh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

300
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2017/HSST ngày 07/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:33/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hải An - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 07/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về