Bản án 33/2017/DSST ngày 24/08/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 33/2017/DSST NGÀY 24/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 24 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2017/TLST-DSST ngày 10 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2017/QĐXX-DSST ngày 08 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công Ty TNHH K

Địa chỉ: đường N, phường B, Tp. T, tỉnh Phú Yên

Ủy quyền cho ông Nguyễn Hương Q – sinh năm 1975

Địa chỉ: đường H, phường B, Tp. T, tỉnh Phú Yên

Có mặt

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1970

Địa chỉ: đường C, phường B, Tp. T, tỉnh Phú Yên

Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2017 và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hương Q trình bày: Công ty TNHH K (gọi tắt là Công ty V) với bà Huỳnh Thị Kim H chủ quán C có quan hệ mua bán với nhau từ năm 2010; theo đó Công Ty V cung cấp cho quán C do bà Huỳnh Thị Kim H làm chủ các sản phẩm Bia và nước giải khác và tính đến ngày 07/4/2016 bà Huỳnh Thị Kim H còn nợ của Công ty V số tiền là 75.453.000đ và 05 két vỏ chai nhãn hiệu Sài gòn trắng, 05 két vỏ chai nhãn hiệu Sài gòn xanh và 01 két vỏ chai nhãn hiệu Pepsi. Nay đại diện theo ủy quyền Công ty V yêu cầu bà Huỳnh Thị Kim H phải trả dứt điểm một lần số nợ; riêng số két vỏ chai nói trên Công ty và bà H tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn: Tại biên bản hòa giải lập ngày 10 tháng 7 năm 2017 và tại phiên tòa bà Huỳnh Thị Kim H thừa nhận, bà là chủ quán ăn uống C, bà với Công ty V có làm ăn mua bán tài sản với nhau; theo đó Công ty V cung cấp cho quán bà các loại bia và nước giải khác từ năm 2010 cho đến năm 2016. Tại bản đối chiếu công nợ lập ngày 07/4/2016 và tính đến ngày xét xử sơ thẩm bà còn nợ của Công ty V số tiền là 75.453.000đ và 05 két vỏ chai nhãn hiệu Sài gòn trắng, 05 két vỏ chai nhãn hiệu Sài gòn xanh và 01 két vỏ chai nhãn hiệu Pepsi như lời trình bày của bên nguyên đơn là đúng.

Tuy nhiên, do hiện nay quán của bà làm ăn khó khăn, không có khả năng trả nợcho Công ty V một lần được và bà chỉ xin trả dần hàng tháng 100.000đ/tháng cho đến khi hết nợ; còn đối với các vỏ chai không nước trên thì bà xin trả hết một lần như các bên thỏa thuận tự giải quyết không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành hòa giải không thành.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Từ năm 2010 giữa Công ty TNHH K với bà Huỳnh Thị Kim H chủ quán C có quan hệ mua bán với nhau; theo đó Công Ty V cung cấp cho quán C do bà Huỳnh Thị Kim H làm chủ các sản phẩm Bia và nước giải khác và tính đến ngày 07/4/2016 bà Huỳnh Thị Kim H còn nợ của Công ty V số tiền là 75.453.000đ và 05 két vỏ chai nhãn hiệu Sài gòn trắng, 05 két vỏ chai nhãn hiệu Sài gòn xanh và 01 két vỏ chai nhãn hiệu Pepsi. Tại biên bản hòa giải lập ngày 10 tháng 7 năm 2017 và tại phiên tòa bà H cũng thừa nhận bà là chủ quán ăn uống C và bà với Công ty V có làm ăn mua bán tài sản với nhau theo đó Công ty V cung cấp cho quán bà các loại bia và nước giải khác từ năm 2010 cho đến năm 2016. Tại bản đối chiếu công nợ lập ngày 07/4/2016 bà còn nợ của Công ty V số tiền là 75.453.000đ và 05 két vỏ chai nhãn hiệu Sài gòn trắng, 05 két vỏ chai nhãn hiệu Sài gòn xanh và 01 két vỏ chai nhãn hiệu Pepsi; vì hiện nay quán của bà làm ăn khó khăn, không có khả năng trả nợ cho Công ty V một lần được và bà chỉ xin trả dần hàng tháng 100.000đ/tháng cho đến khi hết nợ; Như vậy các đương sự Công ty V và bà Huỳnh Thị Kim H thống nhất với nhau số nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm bà H còn nợ của Công ty V số tiền là 75.453.000đ nhưng không thống nhất với nhau về phương thức trả nợ; do đó yêu cầu khởi kiện của Công ty K là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần được chấp nhận cần buộc bà Huỳnh Thị Kim H phải trả một lần dứt điểm số nợ nói trên; riêng 05 két vỏ chai nhãn hiệu Sài gòn trắng, 05 két vỏ chai nhãn hiệu Sài gòn xanh và 01 két vỏ chai nhãn hiệu Pepsi các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Đối với yêu cầu của bà Huỳnh Thị Kim H về việc xin trả dần hàng tháng mỗi tháng 100.000đ/tháng cho đến khi hết nợ; trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu trên; do đó cần buộc bà H phải trả một lần dứt điểm số nợ trên cho Công ty Viêt Phương là phù hợp quy định pháp luật.

- Về lãi suất chậm trả Công ty V không yêu cầu nên không xét.

- Về án phí: Bà Huỳnh Thị Kim H phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH K được chấp nhận nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 430, Điều 433 và Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tại đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2016 của Công ty TNHH K buộc bà Huỳnh Thị Kim H phải trả dứt điểm môt lần số tiền nợ 75.453.000đ (Bảy mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi ba ngàn đồng) cho Công ty TNHH K về khoản hợp đồng mua bán tài sản.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền nói trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

- Về án phí: Áp dụng Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 Bà Huỳnh Thị Kim H phải chịu 3.772.000đ (Ba triệu bảy trăm bảy mươi hai ngàn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH K 2.100.000đ (Hai triệu một trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số: 04726 ngày 10/4/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa. 

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


100
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 33/2017/DSST ngày 24/08/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

Số hiệu:33/2017/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tuy Hòa - Phú Yên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 24/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về