Bản án 319/2019/HNGĐ-ST ngày 15/08/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 319/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/08/2019 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện A mở phiên toà xét sử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 261/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2019 về việc “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 366/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim D, sinh năm: 1998, Cư trú: số 578, tổ 18, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Chí T, sinh năm: 1994. Cư trú: số 668, ấp V, xã Vĩnh T, huyện A, tỉnh An Giang.

(Ông T có mặt; Bà D vắng mặt có đơn xin không tham gia phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai cùng ngày 04/7/2019 bà Huỳnh Thị Kim D trình bày: Bà và ông T là do mai mối, có thời gian tìm hiểu, hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V ngày 03/02/2017. Sau khi kết hôn ông bà cùng đi làm tại B, cuộc sống chung ban đầu được xem là hạnh phúc nhưng đến khoảng giữa năm 2018 thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân là do ông T không chăm lo làm ăn mà uống rượu với bạn bè, bà D lên tiếng khuyên ngăn thì ông tỏ thái độ khó chịu, bản thân không thay đổi mà tình trạng càng tệ hơn nữa. Gia đình hai bên có khuyên ngăn, nhiều lần bà tha thứ nhưng không được, cha mẹ hai bên bỏ mặt để hai người tự giải quyết với nhau.

Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, có quay về cũng không thể chung sống hạnh phúc được nên quyết định ly hôn.

Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Trí D, sinh ngày: 23/10/2018, hiện đang do bà D chăm sóc. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết Ông Nguyễn Văn Chí T được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án đã đến tận nhà ông đã ghi lời khai nhưng ông cũng không có mặt nên tiến hành lập biên bản về việc không làm việc được với đương sự vào ngày 25/7/2019.

Tuy nhiên, tại phiên tòa ông T có mặt và trình bày: Về quan hệ hôn nhân, thời gian chung sống, đăng ký kết hôn ông thống nhất với lời trình bày của bà D. Về nguyên nhân mâu thuẫn, xuất phát từ lý do kinh tế, vợ chồng làm công nhân ở Bình Dương, tiền lương mỗi tháng vợ ông gửi về cho gia đình cha mẹ vợ từ 4.000.000đ đến 5.000.000đ mà không gửi về cho mẹ ông và lo cho cuộc sống gia đình trong khi ông là con út trong nhà. Từ đó, vợ chồng tranh cải với nhau, không hàn gắn được, từ khi ly thân đến nay nhiều lần ông cũng đã nói chuyện với vợ để hàn gắn lại nhưng vợ ông không đồng ý. Nay bà D xin ly hôn ông cũng đồng ý.

Chứng cứ thu thập được:

Ông Huỳnh Văn Đ trình bày: Ông là cha ruột của bà D. Bà D và ông T là do mai mối, hai bên đồng ý nên tiến hành đến hôn nhân. Sau khi kết hôn ông bà đi Bình Dương làm công nhân mâu thuẫn cũng phát sinh từ đây. Theo như bà D trình bày lại thì ông T không chăm lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt với bạn bè, bà D lên tiếng khuyên ngăn thì ông bà xảy ra tranh cãi, nhiều lần như vậy bà D mất dẫn tình cảm vợ chồng và sống ly thân với ông T.

Khi hai bên gia đình hay biết sự việc có hàn gắn nhưng ông bà không đồng ý và yêu cầu ly hôn. Ông T và gia đình ông T yêu cầu được nuôi cháu D nhưng bà D không đồng ý vì từ nhở cháu đã sống với bà D và gia đình ông, phần nữa là cháu D còn quá nhỏ chưa đủ 12 tháng tuổi cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Nay ông T và bà D ly hôn ông không có ý kiến vì đã hàn gắn nhưng không có kết quả.

Tại phiên tòa hôm nay bà D vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt bà theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc thu thập chứng cứ, xác định tư cách của những người tham gia tố tụng là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử được đảm bảo. Về nội dung giải quyết vụ án, xét thấy yêu cầu ly hôn của bà D là có căn cứ, về con chung nhằm đảm bảo sự phát triển tốt nhất đối với trẻ dưới 36 tháng tuổi và theo quy định của pháp luật nên để bà D tiếp tục chăm sóc, công nhận tự nguyện của bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà D xin ly hôn với ông T. Ông T hiện đang cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà D và ông T có đăng ký kết hôn tại xã V, huyện A, tỉnh An Giang vào năm 2017 nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, nên được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu của bà D xin được ly hôn với ông T, HĐXX xét thấy:

Bà D và ông T kết hôn chung sống với nhau là do mai mối, tuy nhiên cũng có thời gian tìm hiểu yêu thương nhau. Trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ lý do kinh tế, mặc dù mâu thuẫn ban đầu là không lớn nhưng do cả hai đều thiếu thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ông T vắng mặt do đó cũng không có cơ hội để vợ chồng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà D thì vẫn giữ thái độ kiên quyết xin được ly hôn với ông T, tại phiên tòa hôm nay ông T cũng đồng ý ly hôn với bà D.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần chấp nhận yêu cầu của bà D về việc xin được ly hôn với ông T.

[3] Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Trí D, sinh ngày: 23/10/2018, hiện đang do bà D chăm sóc. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung.

Xét yêu cầu nuôi con của bà D, HĐXX nhận thấy cháu D hiện chưa đủ 36 tháng tuổi, rất cần sự chăm sóc của mẹ. Tại phiên tòa hôm nay ông T cũng đồng ý cho bà D được tiếp tục nuôi con chung. Do đó, HĐXX có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bà D.

Theo quy định, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà D không yêu cầu ông Thơ cấp dưỡng, HĐXX công nhận sự tự nguyện của bà.

Hội đồng xét xử cũng giải thích cho bà D biết: Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định, sẽ có thay đổi khi có yêu cầu chính đáng của một hoặc cả hai bên và trong thời gian nuôi con bà và những người thân trong gia đình phải có nghĩa vụ tạo điều kiện cho ông T đến thăm con chung, không ai cản trở ông Thơ thực hiện quyền này.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà D và ông T có cùng ý kiến là không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến trong phần quyết định.

[5] Về án phí: Bà D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Các Điều 51, 53, 56, điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xử:Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim D được ly hôn với ông Nguyễn Văn Chí T.

Về con chung: Bà D được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Trí D, sinh ngày: 23/10/2018. Công nhận tự nguyện của bà D không yêu cầu ông Thơ cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà D và những người thân trong gia đình phải tạo điều kiện cho ông T đến thăm con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này.

Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con không cố định sẽ thay đổi khi có yêu cầu chính đáng của một hoặc cả hai bên.

Về án phí: Bà Huỳnh Thị Kim D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A theo biên lai thu số 0011403 ngày 04/7/2019.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/8/2019) các bên có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

255
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 319/2019/HNGĐ-ST ngày 15/08/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:319/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Phú - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 15/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về