Bản án 31/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 31/2019/HS-ST NGÀY 21/11/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 21 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Tẩn Giàng S; tên gọi khác: Tẩn Cù S; sinh năm: 1977; nơi sinh: huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: bản NS1, xã LM, huyện SH, tỉnh LC; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: D; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Tẩn Cuổi L và bà Phồng Mý P; có vợ là Chẻo Xoang M và ba con (con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 09 tháng 3 năm 2000 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã được xóa án tích; bị bắt hồi 12 giờ 50 phút ngày 01 tháng 7 năm 2019; tạm giữ từ 17 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2019 đến 17 giờ 00 phút ngày 10 tháng 7 năm 2019; bị cáo được tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 33 ngày 10 tháng 7 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tẩn Cù C; sinh năm: 1982

Nơi cư trú: bản Nhiều Sáng 1, xã Làng Mô, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; có mặt.

Người làm chứng: Giàng A T, Giàng A K; đều vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 30 tháng 6 năm 2019, Tẩn Giàng S một mình điều khiển xe mô tô (xe máy) nhãn hiệu YAMAHA, loại xe RIRIUS màu trắng đen, biển kiểm soát 25B1-110.80 đi từ nhà ở của S đến thị trấn Sìn Hồ, huyện Sìn Hồ để chơi. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đến thị trấn Sìn Hồ, S vào uống nước tại quán nước ở vỉa hè ngay tại sân vận động thị trấn Sìn Hồ. Trong thời gian ngồi uống nước, S gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ. Qua nói chuyện, S biết người đàn ông đó nghiện chất ma túy nên hỏi người đàn ông có biết chỗ nào bán Heroine (Hêrôin) không, mua giúp một ít. Người đàn ông trả lời là bây giờ thì chưa có, khoảng 7 đến 8 giờ tối thì mang ra cho. S đồng ý và nhờ người đàn ông mua hộ Hêrôin khoảng từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, rồi hẹn gặp nhau tại khu vực sân vận động thị trấn Sìn Hồ để trao đổi, mua bán. Khoảng 20 giờ cùng ngày, S đi mua xăng ở trạm xăng dầu tại khu 2, thị trấn Sìn Hồ. Sau khi mua được xăng, S đi xe máy ra khu vực sân vận động thị trấn Sìn Hồ, khi đi đến đoạn đường gần Nhà khách Ủy ban nhân dân huyện Sìn Hồ, thuộc khu 2, thị trấn Sìn Hồ, S gặp người đàn ông đã hẹn mua bán Hêrôin với S từ buổi chiều đang đi xe máy. S hỏi người đàn ông đã có Hêrôin chưa, người đàn ông trả lời là có rồi và đưa S 01 gói Hêrôin (được gói bằng hai mảnh nilon, lớp bên ngoài là nilon màu đen, bên trong là nilon màu trắng). Sau khi kiểm tra Hêrôin, S cất giấu gói Hêrôin vào túi quần bên trái đang mặc, S đưa người đàn ông 300.000 đồng, rồi đi xe máy lên xã Tả Phìn, huyện Sìn Hồ chơi. Còn người đàn ông bán Hêrôin đi đâu S không biết. Khi đi đến xã Tả Phìn, S dừng xe máy, lấy gói Hêrôin cất vào cốp xe máy rồi đi đến nhà người quen ở đó chơi. Khoảng 05 giờ ngày 01 tháng 7 năm 2019 S đi xe máy đến thị trấn Sìn Hồ chơi. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, S đi xe máy về nhà mình. Khi đi đến đoạn đường gần Nông trường dược Bảo Long (thuộc bản Mao Sao Phìn, xã Xà Dề Phìn, huyện Sìn Hồ) S dừng xe và lấy gói Hêrôin ở trong cốp xe ra cất giấu vào túi quần bên trái, phía trước đang mặc, rồi tiếp tục đi xe máy về nhà. Vào hồi 11 giờ 30 phút, khi Sơn đi đến khu vực bản Làng Mô, xã Làng Mô, huyện Sìn Hồ thì gặp Tổ công tác Công an huyện Sìn Hồ đang làm nhiệm vụ. Tổ công tác đã yêu cầu Sơn dừng xe để kiểm tra. Trong quá trình bị kiểm tra, S đã dùng tay trái lấy gói Hêrôin trong túi quần ra và ném về phía taluy âm, cách vị trí S đứng 4,8 mét thì bị Tổ công tác Công an huyện Sìn Hồ cùng với người đi qua đường là anh Giàng A T và anh Giàng A K phát hiện, bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định tư pháp số 15 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ngày 02 tháng 7 năm 2019 kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Tẩn Giàng S có khối lượng là: 1,15 gam.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và trích mẫu giám định hồi 08 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 7 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã trích 0,19 gam trong 1,15 gam chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn Giàng S để gửi đi giám định. Số chất bột màu trắng còn lại là 0,96 gam được niêm phong, lưu giữ.

Tại Bản kết luận giám định số: 330/GĐ-KTHS ngày 04 tháng 7 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn Giàng S gửi giám định là ma túy, loại: Heroine; hoàn lại mẫu vật giám định: không.

Tại Bản cáo trạng số: 33/CT-VKSSH, ngày 28 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị can Tẩn Giàng S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tẩn Cù C khai nhận: Chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe RIRIUS màu trắng đen, biển kiểm soát 25B1-110.80 có giấy đăng ký ghi tên anh trai của Chản là Tẩn Giàng S. Nhưng tiền mua xe là của C, khi S sử dụng xe máy để đi mua Hêrôin không nói cho C biết. Ngày 02 tháng 10 năm 2019 Tẩn Cù C đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã trả lại chiếc xe mô tô và 01 giấy đăng ký xe, không có yêu cầu, đề nghị gì.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố, bị cáo Tẩn Giàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tẩn Giàng S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, thiêu hủy 0,96 gam Hêrôin, 01 mảnh nilon màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng. Trả lại cho bị cáo 01 giấy chứng minh mang tên Tẩn Giàng S, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đồng, cũ đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu nâu, cũ đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[2] Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự thủ tục tố tụng hình sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 11 giờ 30 phút, ngày 01 tháng 7 năm 2019, tại đường giao thông liên xã thuộc khu vực bản Làng Mô, xã Làng Mô, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tẩn Giàng S đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,15 gam Hêrôin (được gói trong một gói nhỏ hai lớp ni lon, bên ngoài màu đen, bên trong màu trắng) với mục đích để bản thân sử dụng. Khi S bị Tổ công tác Công an huyện Sìn Hồ dừng xe để kiểm tra, trong quá trình bị kiểm tra, S đã ném gói Hêrôin xuống ta luy âm, cách chỗ S đứng 4,8 mét thì bị Tổ công tác Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và hai người đi qua đường là ông Giàng A T và ông Giàng A K phát hiện, bắt quả tang. Do đó, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Nhng chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, phù hợp với nhân thân của bị cáo và phục vụ tốt công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở địa phương.

Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm lan truyền nhiều loại bệnh tật, gia tăng các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người biết rõ hành vi sử dụng, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là gây nguy hại cho xã hội, là vi phạm pháp luật. Ngày 09 tháng 3 năm 2000 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã được giáo dục, cải tạo bằng hình phạt tù rất nghiêm khắc, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Nên cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật; đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo chỉ học đến lớp 03/12 nên nhận thức có phần hạn chế. Nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng trong pháp luật của Nhà nước.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản; bị cáo không lao động trong các ngành, nghề hoặc đảm nhiệm công việc cần phải cấm; nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đi với 1,15 gam Hêrôin thu giữ của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã gửi 0,19 gam đi giám định. Sau khi giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu không hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định. Số Hêrôin còn lại có trọng lượng 0,96 gam là vật nhà nước cấm lưu hành, nên bị tiêu hủy, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đi với 01 mảnh nilon màu đen và 01 mảnh nilon màu trắng là vật được sử dụng để gói Hêrôin, hiện nay những vật này không có giá trị, không sử dụng được, nên bị tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đi với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe RIRIUS màu trắng – đen, biển kiểm soát 25B1-110.80 cũ, đã qua sử dụng, có giấy đăng ký xe mô tô kèm theo. Tại Quyết định xử lý vật chứng số: 10 ngày 02 tháng 10 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã trả lại chiếc xe mô tô và 01 giấy đăng ký xe cho Tẩn Cù C là em ruột của bị cáo. Tại phiên tòa, Tẩn Cù C không có ý kiến, yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đi với 01 chứng minh nhân dân mang tên Tẩn Giàng S, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đồng, cũ đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu nâu, cũ đã qua sử dụng, đều thu giữ của Tẩn Giàng S. Những vật này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại toàn bộ những vật chứng này cho bị cáo.

[7] Về án phí: Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên bị cáo được miễn nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qua được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

[9] Về nguồn gốc số Hêrôin thu giữ của bị cáo và trách nhiệm của người có liên quan:

Theo lời khai của bị cáo, bị cáo đã mua Hêrôin của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ với số tiền 300.000 đồng. Đến nay, không có tài liệu xác định người đàn ông này là ai, ở đâu, nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

1. Tuyên bố:

Bị cáo Tẩn Giàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Tẩn Giàng S 02 (hai) năm 06 (sáu tháng) tù, được trừ 09 ngày bị cáo đã bị tạm giữ, bị cáo còn phải thi hành 02 (hai) năm 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiêu hủy 0,96 gam Hêrôin là vật chứng còn lại trong vụ án.

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy 01 mảnh nilon màu đen và 01 mảnh nilon màu trắng.

Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo: 01 chứng minh nhân dân mang tên Tẩn Giàng S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đồng, cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, màu nâu, cũ đã qua sử dụng.

4. Án phí sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 21 tháng 11 năm 2019).


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 31/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:31/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sìn Hồ - Lai Châu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về