Bản án 30/2020/HS-ST ngày 07/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG – TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 30/2020/HS-ST NGÀY 07/05/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/HSST ngày 30 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2020/QĐXXST-HS ngày 24/4/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hoàng T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 31/3/1978 tại thành phố C; Hộ khẩu thường trú: tổ B, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: tổ B, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phạm Hoàng L, sinh năm 1954; Hộ khẩu thường trú: tổ B, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1952; Hộ khẩu thường trú: tổ B, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vợ, con: chưa có; Anh, chị em ruột: Bị can có 02 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình;

Tiền án: Bị cáo có 04 tiền án.

- Ngày 22/02/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 23/01/2007 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Ngày 26/11/2009 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - Ngày 24/5/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2001 bị Công an thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt hành chính về hành vi Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

Bị cáo Phạm Hoàng T hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố từ ngày 16/12/2019 đến nay; Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Hoàng L Trú tại: tổ B, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 09 giờ 40 phút ngày 16 tháng 12 năm 2019 tại khu vực bến xe khách cũ thuộc tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Cao Bằng bắt quả tang Phạm Hoàng T (sinh ngày 31/3/1978; Hộ khẩu thường trú: tổ B, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

+ 02 (hai) gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (Tkhai nhận là Heroine) có tổng khối lượng là 0,03g (không phẩy không ba gam) thu giữ trong túi áo khoác bên trái Tđang mặc;

+ 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt trước và sau có chữ NOKIA, số sêri 1: 356971098257605, sêri 2: 356971099157606, điện thoại cũ đã qua sử dụng;

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu đen bạc, biển kiểm soát: 11F7 - 651H, xe cũ đã qua sử dụng;

+ 01 (một) ví giả da màu nâu mặt trước có chữ LEVI’S;

+ Tiền Việt Nam: 124.000đ (một trăm hai mươi tư nghìn đồng) Ngày 27/12/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 10 đối với vật chứng vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số 21 ngày 05/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cao Bằng kết luận:“Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”.

Ngày 27/12/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra yêu cầu tra cứu tiền án tiền sự đối với Phạm Hoàng T. Tại Trích lục tiền án, tiền sự số 375 ngày 17/01/2020 của Phòng hồ sơ Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Phạm Hoàng T có 03 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 16/12/2019, Phạm Hoàng T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 11F7-651H đi từ nhà riêng tại tổ B, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đến khu vực bến xe khách cũ thành phố Cao Bằng thuộc tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng để ngồi chơi uống nước. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi từ khu vực bến xe khách cũ thành phố C đến khu vực chợ N thuộc tổ H, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) dáng giống người nghiện nên hỏi mua ma túy với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Người này đồng ý. T đưa cho người này số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), người này nhận tiền rồi lấy từ trong người ra 02 (hai) gói Heroine đều được gói bằng giấy bạc màu trắng đưa cho T. Sau đó, T cho 02 (hai) gói Heroine vừa mua được vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay lại khu vực bến xe khách cũ thành phố C để ngồi uống nước. Đến 09 giờ 40 phút cùng ngày, khi T vừa đến khu vực bến xe khách cũ thành phố C thì bị Cơ quan điều tra bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu ở trên.

Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng số: 28/CT-VKSTP ngày 30/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo cho rằng Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không thay đổi lời khai và không khai thêm nội dung gì khác.

Trong bản luận tội, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị tuyên bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T mức án từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù; Về vật chứng đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận: Bị cáo Phạm Hoàng T không có gì cần tranh luận với phần luận tội của Viện kiểm sát.

Phần nói lời sau cùng: Bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, được hưởng mức án nhẹ nhất.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản với cơ quan điều tra và tại phiên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Các yếu tố cấu thành tội phạm:

Về mặt khách quan: Bị cáo Phạm Hoàng T do nghiện ma túy, nên đã có hành vi tàng trữ 0,03 (không phẩy không ba gam) ma túy để sử dụng cho bản thân. Mặc dù số lượng ma túy bị cáo tàng trữ không đủ 0,1 gam; Tuy nhiên, do bị cáo đã có tiền án chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đã bị truy tố theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Như vậy có thể thấy rằng hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách pháp luật của nhà nước về việc quản lý các chất gây nghiện (ma túy).

Về mặt chủ quan của tội phạm: Trong vụ án này, bị cáo nhận thức được việc thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị pháp trừng trị nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý.

Về mặt khách thể: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và làm gia tăng thêm tệ nạn xã hội tại địa phương.

Về mặt chủ thể: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi. Do đó, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội do mình gây ra.

Từ những phân tích trên đây, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người quả tang và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Phạm Hoàng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; ...

Bị cáo Phạm Hoàng T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có trình độ hiểu biết, bị cáo ý thức được việc thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo đã bất chấp tất cả để thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Trường hợp này cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo:

Qua xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có 3 tiền án chưa được xóa án tích. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục có hành vi phạm tội, nên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần cân nhắc đến nhân thân của bị cáo mà đưa ra mức án tương xứng với hành vi do bị cáo gây ra.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51. Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T với mức án từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù; Về vật chứng: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Hi đồng xét xử xét thấy mức đề nghị về hình phạt trên là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo thực hiện nên cần chấp nhận.

[4] Về vật chứng chuyển theo vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Trả lại cho bị cáo các vật chứng sau vì không liên quan đến đến hành vi phạm tội:

+ 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt trước và sau có chữ NOKIA, số sêri 1: 356971098257605, sêri 2: 356971099157606, điện thoại cũ đã qua sử dụng;

+ 01 (một) ví giả da màu nâu mặt trước có chữ LEVI’S;

+ Tiền Việt Nam: 124.000đ (một trăm hai mươi tư nghìn đồng) vụ Phạm Hoàng T. Mặt sau có chữ ký của các bên tham gia niêm phong cùng 3 dấu tròn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Cao Bằng (kèm Kết luận tiền Việt Nam số:267/KL-CAB ngàu 06/4/2020 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Cao Bằng). Nhưng cần giữ lại số tiền trên để đảm bảo việc thi hành án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, về nguồn gốc số Heroine thu giữ khi bắt quả tang, bị cáo khai được mua với một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể) tại khu vực cổng chợ N, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên, việc trao đổi mua bán ma túy của T với đối tượng trên không có ai biết và chứng kiến. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phạm Hoàng T;

- Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T mức án 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2019 sau đó chuyển tạm giam.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Trả lại cho bị cáo các vật chứng sau vì không liên quan đến đến hành vi phạm tội:

+ 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt trước và sau có chữ NOKIA, số sêri 1: 356971098257605, sêri 2: 356971099157606, điện thoại cũ đã qua sử dụng;

+ 01 (một) ví giả da màu nâu mặt trước có chữ LEVI’S;

+ 01 (một) phong bì niêm phong tiền Việt Nam: 124.000đ (một trăm hai mươi tư nghìn đồng) vụ: Phạm Hoàng T. Mặt sau có chữ ký của các bên tham gia niêm phong cùng 3 dấu tròn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Cao Bằng (kèm Kết luận tiền Việt Nam số: 267/KL-CAB ngàu 06/4/2020 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Cao Bằng). Nhưng cần giữ lại số tiền trên để đảm bảo việc thi hành án.

Xác nhận số vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 59 ngày 24 tháng 4 năm 2020.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử buộc bị cáo Phạm Hoàng T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2020/HS-ST ngày 07/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:30/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Bằng - Cao Bằng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 07/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về