Bản án 30/2017/HSST ngày 26/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 30/2017/HSST NGÀY 26/07/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 7 năm 2017 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2017/HSST ngày 16 tháng 3 năm 2017; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2017/QĐXX-HS ngày 12 tháng 4 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: A; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02/12/1998; Tại xã A, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở: TDP NH, phường B, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn Giáo: Không; Con ông: B; Con bà: C (Đã chết); Anh, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; Không; Tiền sự: - Ngày 21/7/2011 bị UBND huyện Kỳ Anh ban hành quyết định số1834/QĐ-UBND áp dụng biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng với thời gian 24(Hai bốn) tháng. Đến  tháng 6/2013 chấp hành xong trở về địa phương.

Ngày 15/9/2013 bị Chủ tịch thị trấn Kỳ Anh ban hành Quyết định xử phạt hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 20/01/2014 bị Chủ tịch UBND xã Kỳ Phương ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường với thời hạn 06 tháng kế từ ngày 20/01/2014 về hành vi trộm cắp tài sản.  Ngày 10/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh ban hành Quyết định số 06/QĐ - TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời gian 15 (Mười lăm) tháng, đến ngày 10/01/2016 chấp hành xong theo giấy chứng nhận số 04/GCN -TGD của Trường giáo dục 2 Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hổ trợ tư pháp. Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kỳ Anh áp dụng biện pháp bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Kỳ Anh và Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 02/11/2016 đến nay. (Có mặt). 

* Người bị hại:  Chị TTH - Sinh năm 1984; HKTT: Xã B, huyện B, tỉnh Ninh Bình hiện đang thuê nhà trọ của ông LCD ở TDP HS, phường B, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị cáo DXL: Bà  Đinh Thị Hiền – Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt) * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:  1. Anh LAH - Sinh năm 1991; Trú tại:  phường B, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt). 2. Anh VVH - Sinh năm 1997; HKTT: Xã B, huyện B, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt).

3. Anh HVT – Sinh ngày 22/1/2001; Trú tại: TDP NH, phường B, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt). * Người giám hộ cho anh HVT: Bà HTN. Trú tại: TDP NH, phường B, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 29/10/2016, DXL (Sinh 02/12/1998) cùng LAH (Sinh năm 1991), cả hai đều có hộ khẩu thường trú tại phường B, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh, ngủ tại phòng trọ của LAH ở TDP NT, phường B. Đến khoảng 10 giờ ngày 30/10/2016, sau khi ngủ dậy DXL nói với LAH "Thiết kế cái gì lấy tiền tối chơi Intenet", tiếp theo DXL bảo LAH ra phía ngoài phòng trọ và chỉ về phía nhà trọ của chị TTH (Sinh năm 1984, HKTT: Xã B, huyện B, tỉnh Ninh Bình) đang thuê nhà trọ của ông LCD ở TDP HS, phường B, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh, với mục đích vào phòng trọ chị TTH để trộm tài sản, LAH hỏi DXL "Đi đường nào để vào", DXL nói "Đi đường mương vòng phía sau nhà phòng trọ chị TTH". Khi nghe DXL nói, thì LAH nói lại "không được, đi tù mọt gông chú à, anh đi đường anh, em đi đường em". Sau đó LAH đi lên quán cắt tóc Dung misa, còn DXL đến phòng trọ của gia đình chị TTH thấy không có người trông coi, lợi dụng gia đình chị TTH đi vắng, DXL đã chui qua cửa thông gió phía sau công trình phụ, đột nhập vào phòng trọ trộm 01 (Một) chiếc máy mài màu xanh, số hiệu S1M- FF05- 100B; 01 (Một) chiếc máy cắt, tay cầm màu đỏ, thân máy màu ghi bạc, có chữ FEG; 01 (Một) máy khoan bê tông, màu xám trắng, có gắn mũi khoan bằng kim loại dài 19 cm và 01 hộp màu đỏ; 03 hộp mỹ phẩm phụ nữ. Khi lấy các tài sản trên Lợi ném qua cửa thông gió ra ngoài, tiếp đó sang phòng bên cạnh phát hiện một tủ ba tầng làm bằng kim loại màu trắng, DXL mở ra kiểm tra thấy ở ngăn giữa tầng hai của tủ có 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng nhiều loại tiền nên DXL đã lấy túi nilon đựng số tiền nêu trên. Sau khi trộm được các tài sản trên, DXL chui qua cửa thông gió ra ngoài, mở túi đựng tiền lấy một cọc tiền với các mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) bỏ vào túi quần, số tiền còn lại để trong bao nilon giấu ở gốc cây trong vườn gần phòng trọ chị TTH, rồi tiếp quay lại phía sau phòng trọ chị TTH lấy các hộp nước hoa, còn 03 chiếc máy để lại. Sau đó quay về phòng trọ của LAH ở TDP NT, phường B, thị xã Kỳ Anh ngủ. Đến ngày 31/10/2016, DXL đến một tiệm điện thoại ở ngã ba làng Tùng, phường Kỳ Liên, thị xã Kỳ Anh mua 01 điện thoại hiệu HUAWEI loại GRA- UL00 màu trắng xám, ốp da màu nâu, số sim 0868737311, với số tiền 8.000.0000 đồng (Tám triệu đồng) và mua của anh ĐVT ở quán Internet thuộc tổ dân phố Hoành Nam, phường Kỳ Liên 01 điện thoại hãng VERTUS- 818772 màu trắng có viền màu đồng; sim điện thoại 0961630556 và chiếc thẻ nhớ với số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), tiếp theo đến chợ phường Kỳ Phương mua quần áo, giày, dép, thắt lưng khoảng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Ngoài ra số tiền lấy trộm được DXL còn dùng để phục vụ ăn uống, đi lại, mua sim, thẻ nhớ điện thoại và trả tiền chơi điện tử với tổng số tiền 1.210.000 đồng (Một triệu hai trăm mười nghìn đồng); cho LAH  660.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) và cho em họ là HVT ở TDP NH, phường B, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Sau khi sự việc xảy ra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kỳ Anh tiến hành khám nghiệm hiện trường, tổ chức xác minh và đã được đối tượng LAH khai nhận và cung cấp thông tin về DXL là đối tượng nghi vấn của vụ án. Khi tiếp nhận thông tin Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập DXL lên làm việc và DXL đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình, giao nộp các tài sản đã chiếm đoạt và số tiền còn lại là 183.020.000 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).

Về số tiền bị mất của chị TTH, quá trình điều tra xác định vào khoảng 19 giờ ngày 29/10/2016, chị TTH và chồng là anh PĐT đã giao cho anh VVH ( Sinh năm 1997; HKTT: Xã B, huyện B, tỉnh Ninh Bình) nhận trực tiếp từ ông TTQ (Sinh năm 1972; Quốc tịch Trung Quốc) hiện là Kỷ sư của Công ty B Thượng Hải, đóng tại Khu công nghiệp Fomosa Hà Tĩnh, với số tiền 286.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi sáu triệu đồng) tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành để thanh toán tiền lương cho công nhân. Sau khi nhận về, VVH đã lấy hai lần với số tiền 2.900.000 đồng ( Hai triệu chín trăm nghìn đồng) để mua mũi khoan và trả nợ; còn lại 283.100.000 đồng ( Hai trăm tám mươi ba triệu một trăm nghìn đồng) VVH đã bỏ vào túi nilon màu trắng cất vào ngăn giữa tầng hai tủ ba tầng bằng kim loại màu trắng của chị TTH và đã bị DXL chiếm đoạt vào khoảng 10 giờ ngày 30/10/2016.

Tại kết luận định giá tài sản số 89/HĐĐG ngày 02/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Kỳ Anh kết luận:

- 01 (Một) chiếc máy mài màu xanh, số hiệu là S1M- FF05- 100B máy đã qua sử dụng, sản phẩm cùng loại có đơn giá mới thị trường là 500.000 đồng, tỷ lệ % còn lại = 30% giá trị sử dụng. Vậy giá trị của tài sản là 500.000 đồng x 30% = 150.000 đồng (Một trăm năm mười nghìn đồng).

- 01 (Một) chiếc máy cắt, tay cầm màu đỏ, thân máy màu ghi bạc, có chữ FEG máy đã qua sử dụng, sản phẩm cùng loại có đơn giá mới trên thị trường là 1.000.000 đồng, tỷ lệ % còn lại là 50% giá trị sử dụng. Vậy giá trị của tài sản là 1.000.000 đồng x 50% = 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

- 01 (Một) máy khoan bê tông, màu xám trắng, có gắn mũi khoan bằng kim loại dài 19 cm, máy đã qua sử dụng, sản phẩm cùng loại có đơn giá mới trên thị trường là 600.000 đồng, tỷ lệ % còn lại = 40% giá trị sử dụng. Vậy giá trị của tài sản là 600.000 đồng x 40% = 240.000 đồng (Hai trăm bốn mười nghìn đồng). Tổng giá trị của các tài sản nói trên tại thời điểm định giá là: 890.000 đồng (Tám trăm chín mươi nghìn đồng).

Đối với các loại mỹ phẩm không có giá trị sử dụng, nên chị TTH đã nhận lại và không định giá, xử lý.

Số tài sản nói trên được xác định chủ sở hữu là chị TTH (Sinh năm 1984; HKTT: Xã B, huyện B, tỉnh Ninh Bình) đang thuê nhà trọ của ông LCD ở TDP HS, phường B, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh. Tổng tài sản DXL đã chiếm đoạt của chị TTH là 283.990.000 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng)

Tại bản cáo trạng số 17/CTr-KSĐT ngày 14/03/2017 VKSND Thị xã Kỳ Anh đã truy tố: DXL phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo Điểm a Khoản 3 Điều 138 - BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và nhất trí với quyết định truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm a Khoản 3 Điều 138 Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Các Điều 69, 74 – BLHS năm 1999; Điều 4 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7; Khoản 1, Khoản 4, Khoản 6 Điều 91 – BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo DXL mức án từ 3 - 4 năm tù;

Về dân sự: Áp dụng Điều 42 – BLHS các Điều 584, 585, 586, 589 – BLDS năm 2015 buộc bị cáo DXL phải bồi thường số tiền là 100.080.000 đồng (Một trăm triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) cho chị TTH; 

Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật;

Biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền hưởng lợi bất chính ở người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là LAH và HVT để sung công quỹ nhà nước.

Trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị cáo hoàn toàn nhất trí quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết có lợi để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của người bị hại, người liên quan, nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Tòa án xét xử đúng pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo Dương Xuân L: Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và rất hối hận về hành vi mà bị cáo đã gây ra; mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về đoàn tụ gia đình tìm công việc làm ăn lương thiện.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Kỳ Anh, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo xuất trình tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Trợ giúp pháp lý, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.  [2]. Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp về thời gian, địa điểm, tang vật chứng thu hồi và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 10 giờ ngày 30/10/2016, lợi dụng gia đình chị TTH đi vắng, DXL đã lén lút đột nhập vào phòng trọ của chị TTH thuê của ông LCD ở TDP HS, phường B, thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh chiếm đoạt 01 (Một) chiếc máy mài màu xanh, số hiệu S1M- FF05- 100B; 01 (Một) chiếc máy cắt, tay cầm màu đỏ, thân máy màu ghi bạc, có chữ FEG; 01 (Một) máy khoan bê tông, màu xám trắng, có gắn mũi khoan bằng kim loại dài 19 cm với tổng giá trị của cả 03 loại là 890.000 đồng (Tám trăm chín mươi nghìn đồng) và số tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành là 283.100.000 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu một trăm nghìn đồng). Tổng tài sản DXL đã chiếm đoạt của chị TTH là 283.990.000 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).

Với hành vi nêu trên, nên VKSND Thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố và đưa ra xét xử bị cáo DXL về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 138 Bộ Luật Hình sự 1999 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không có gì oan sai.

[3]. Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, lỗi trong vụ án này là lỗi cố ý trực triếp; Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, bị cáo DXL đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản mục đích lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bản thân bị cáo đã có 4 tiền sự cụ thể: Ngày 21/7/2011 bị UBND huyện Kỳ Anh ban hành quyết định số1834/QĐUBND áp dụng biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng với thời gian 24 (Hai bốn) tháng. Đến tháng 6/2013 chấp hành xong trở về địa phương; Ngày 15/9/2013 bị Chủ tịch Thị trấn Kỳ Anh ban hành Quyết định xử phạt hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 20/01/2014 bị Chủ tịch UBND xã Kỳ Phương ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường với thời hạn 06 tháng kể từ ngày 20/01/2014 về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 10/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh ban hành Quyết định số 06/QĐ - TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời gian 15(Mười lăm) tháng, đến ngày 10/01/2016 chấp hành xong theo giấy chứng nhận số 04/GCN -TGD của Trường giáo dục 2 Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. Bị cáo không lấy đó làm bài học ăn năn, hối cải, sửa chữa bản thân mà lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản. 

[4]. Hành vi của bị cáo DXL vi phạm tình tiết định khung được quy định tại Điểm a, Khoản 3, Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 đó là: “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”. Nên bị cáo bị phải chịu tình tiết định khung nói trên.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng hình sự: Bị cáo DXL không phạm vào tình tiết tăng nặng hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ hình sự: Bị cáo DXL thành khẩn khai báo; Mồ côi cha mẹ; Khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi; bản thân đang mắc bệnh Viêm tụy cấp(thể hoại tử). Những tình tiết giảm nhẹ đó được quy định tại Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, các Điều 69, Điều 74 – BLHS năm1999. Để áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội theo nội dung Khoản 3 Điều 7 của Bộ Luật Hình sự  2015, Điều 4 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, thì HĐXX cần áp dụng Khoản 1, Khoản 4, Khoản 6 Điều 91 của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như lời đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát thị xã Kỳ Anh là phù hợp với tính chất mức độ và hành vi mà bị cáo đã gây ra. HĐXX xét thấy bị cáo DXL thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là rất nghiêm trọng, bản thân có 4 tiền sự. Tuy nhiên bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi còn hạn chế về nhận thức; mồ côi bố mẹ từ nhỏ, bản thân lại đang bị bệnh hiểm nghèo; Nghĩ cần xử cho bị cáo mức án khởi điểm như VKSND thị xã Kỳ Anh đề nghị là hợp lý để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật Việt Nam. Nhưng dù chiếu cố đi đến đâu cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian để bị cáo suy ngẫm về hành vi của mình đã gây ra và cải tạo trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội.

Theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, mồ côi bố mẹ từ nhỏ lại là người chưa thành niên; Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Trong vụ án này còn có đối tượng LAH sau khi nghe DXL rủ rê thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị TTH, đã đồng ý đi theo, nhưng khi đến địa điểm LAH đã chủ động không tham gia thực hiện, bỏ đi đến nơi khác. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, DXL chỉ cho LAH biết là đã lấy trộm được 03(Ba) chiếc máy với tổng giá trị đã định giá là 890.000 đồng (Tám trăm, chín mươi nghìn đồng); còn số tiền 283.100.000 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu một trăm nghìn đồng), DXL dấu không thông báo cho LAH. Mặt khác sau khi sự việc xảy ra, LAH nghi vấn DXL là đối tượng thực hiện hành vi phạm tội, nên đã chủ động trình báo với Cơ quan điều tra biết, để kịp thời điều tra xác minh đối tượng phạm tội. Vì vậy, hành vi của LAH chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nên HĐXX miễn xét.

Còn các đối tượng LAH và HVT đã nhận tiền từ bị cáo DXL do phạm tội mà có, nhưng không hứa hẹn trước và không biết tiền đó là do phạm tội mà có, nên không có căn cứ để xử lý các đối tượng theo quy định của pháp luật nên HĐXX miễn xét.

Đối với số mỹ phẩm là 3 lọ nước hoa quá trình điều tra sau khi xem xét số mỹ phẩm đã hết niên hạn sử dụng không định giá được, người bị hại cũng không yêu cầu nên HĐXX miễn xét.

[6]. Vật chứng thu giữ:

- Số tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành 183.020.000 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) gồm: 23 tờ mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); 652 tờ mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); 410 tờ mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng); 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng); 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng).

-  01 (Một) chiếc máy mài màu xanh, số hiệu SIM- FF05- 100B (Đã qua sử dụng).

- 01 (Một) chiếc máy cắt, tay cầm màu đỏ, thân máy màu ghi bạc, có chữ FEG (Đã qua sử dụng).

- 01 (Một) chiếc máy khoan bê tông, màu xám trắng, có gắn mũi khoan bằng kim loại dài 19cm (Đã qua sử dụng).

(Số vật chứng nêu trên trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan CSĐT Công an thị xã Kỳ Anh đã trả lại cho chủ sở hữu nên HĐXX miễn xét). - Còn vật chứng 01 (Một) chiếc điện thoại HUAWEI GR- UL00,Imei: 868756022541179,  màu trắng xám, có ốp da ngoài màu nâu (Đã qua sử dụng).

-  01 (Một) chiếc điện thoại VERTU S-818772, Imei:  3537640322055555, màu trắng có viền màu đồng, bao da đựng màu đen (Đã qua sử dụng).

Vật chứng 2 chiếc điện thoại có đặc điểm nêu trên do bị cáo DXL phạm tội mà có nên HĐXX nghĩ cần tịch thu bán đấu giá sung công quỹ Nhà nước.

* Trong quá trình điều tra, bị cáo DXL khai nhận đã sử dụng tiền lấy trộm được để mua hai bộ quần áo dài tay màu đen, một đôi giày vải màu vàng, một đôi dép lê màu đen, một dây thắt lưng màu vàng, một mũ lưỡi trai màu trắng. Sau khi mua Lợi đã mang đến và bỏ phía sau khu vực Hội trường TDP NH, phường B, thị xã A, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kỳ Anh đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả nên HĐXX miễn xét.

[7]. Về dân sự: Bị hại TTH sau khi nhận lại số tiền 183.020.000 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) và 03 chiếc máy có đặc điểm nêu trên, đã có đơn yêu cầu DXL bồi thường số tiền còn lại là 100.080.000 đồng (Một trăm triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường. HĐXX xét thấy sự thỏa thuận là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nghĩ cần áp dụng điều 42 - BLHS, các điều 584, 585, 586, 589 – BLDS năm 2015; Xử tuyên bị cáo DXL phải bồi thường thiệt hại cho chị TTH số tiền:100.080.000 đồng (Một trăm triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

[8]. Về biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền hưởng lợi bất chính ở người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là LAH 660.000đ(Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) và HVT 100.000đ (Một trăm nghìn đồng chẵn) để sung công quỹ nhà nước. 

[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại, người bào chữa có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo DXL phạm tội: "Trộm cắp tài sản" ;

Áp dụng Điểm a Khoản 3 Điều 138; Điểm p  Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, các Điều 69, Điều 74 - Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 4 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7; Khoản 1, Khoản 4, Khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: DXL 03(Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/11/2016.

2. Về dân sự:

Áp dụng điều 42 – Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 – Bộ Luật Dân sự 2015, tuyên: DXL phải bồi thường cho chị TTH số tiền là: 100.080.000 đồng (Một trăm triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

3. Về vật chứng: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự; tuyên:

Tịch thu bán đấu giá sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại HUAWEI GR- UL00,Imei: 868756022541179,  màu trắng xám, có ốp da ngoài màu nâu (Đã qua sử dụng).

- 01    (Một)    chiếc    điện    thoại    VERTU    S-    818772,       Imei: 3537640322055555, màu trắng có viền màu đồng, bao da đựng màu đen (Đã qua sử dụng). (Vật chứng có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/3/2017)

4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm b khoản 1 Điều 41 – Bộ luật Hình sự, tuyên:

Truy thu sung công quỹ Nhà nước: LAH số tiền 660.000đ(Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) và HVT số tiền 100.000đ(Một trăm nghìn đồng chẵn).

5. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 99 – Bộ luật tố tụng Hình sự, Khoản 1 Điều 21, Điểm a,c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí toà án, tuyên:

Bị cáo DXL phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí  Hình sự sơ thẩm và 5.004.000đ (Năm triệu không trăm linh bốn nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm có giá nghạch.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo bản án: Báo cho bị cáo, người bị hại, người bào chữa được quyền kháng cáo bản án này lên toà án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình lên tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình lên tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.


64
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về