Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 20/08/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 29/2019/HNGĐ-ST NGÀY 20/08/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 20 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 03 năm 2019 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXX-ST ngày 12 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lầu Y K, sinh năm 1984; Địa chỉ: Bản L1, xã M, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Hờ Bá V, sinh năm 1984; Nơi ĐKNKTT: Bản L1, xã M, huyện KS, tỉnh Nghệ an. Chỗ ở hiện nay: Đội 19, Phân trại số 2, Trại giam số 5 Bộ Công an (có trụ sở tại huyện Y, tỉnh Thanh Hóa). Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; địa chỉ: Số 2 phường L, quận B, thành phố Hà Nội, người đại diện theo pháp luật là ông Trịnh Ngọc Kh, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên. Ủy quyền tham gia tố tụng cho Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện KS - Tây Nghệ An; Địa chỉ khối 1, thị trấn MX, huyện KS, tỉnh Nghệ An (văn bản ủy quyền 510/QĐ-HĐTV-PC ngày 19/6/2014), đại diện là bà là bà Lô Thị H, chức vụ: Giám đốc chi nhánh. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 03 năm 2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn Lầu Y K trình bày: Chị Lầu Y K và anh Hờ Bá V chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004 đến năm 2012 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện KS, tỉnh Nghệ An, kết hôn trên tinh thần tự nguyện, không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn mà pháp luật quy định. Lúc đầu tình cảm vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2016 anh Hờ Bá V vi phạm pháp luật về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy và bị kết án 16 năm tù (hiện đang chấp hành án phạt tù tại Đội 19, Phân trại số 2, Trại giam số 5 Bộ Công an (có trụ sở tại huyện Y, tỉnh Thanh Hóa). Sau những lần thăm anh Hờ Bá V tại trại giam chị và anh Hờ Bá V hay xẩy ra mâu thuẫn, việc anh Hờ Bá V phải chấp hành án trong thời gian dài đã ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng, vì vậy chị Lầu Y K thấy rằng tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hờ Bá V.

Về con: Chị Lầu Y K và anh Hờ Bá V có 02 con chung, con đầu tên là Hờ Bá T sinh ngày 20/02/2005 và con thứ hai tên là Hờ Bá X sinh ngày 29/05/2007 ly hôn chị Lầu Y K yêu cầu được nuôi 02 con và không yêu cầu anh Hờ Bá V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị Lầu Y K và anh Hờ Bá V đã tự thỏa thuận phân chia, Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về các khoản nợ: Chị Lầu Y K khai vào năm 2016 vợ chồng có vay Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh KS – Tây Nghệ An với số tiền vay vốn 50.000.000 (Năm mươi triệu đồng) mục đích vay là để phục vụ cho sinh hoạt gia đình, đến thời điểm hiện tại chị đã trả được số tiền gốc là 2.000.000 (hai triệu đồng) các khoản lãi suất theo tháng chị vẫn đóng đầy đủ đúng thời hạn, hiện nay nếu ly hôn chị nhận trách nhiệm được trả khoản vay này cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh KS – Tây Nghệ An.

Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã tiến hành ủy thác thu chứng cứ và được anh Hờ Bá V trình bày tại bản tự khai như sau: Về thời gian đăng ký kết hôn như nguyên đơn trình bày, đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Lầu Y K do bản thân anh Hờ Bá V đang phải chấp hành án dài hạn làm ảnh hưởng đến hạnh phúc tình cảm vợ chồng và không có điều kiện chăm lo cho gia đình nên anh Hờ Bá V chấp nhận đồng ý ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn Lầu Y K. Về con chung anh Hờ Bá V cũng thừa nhận có 02 con chung, con đầu tên là Hờ Bá T sinh ngày 20/02/2005 và con thứ hai tên là Hờ Bá X sinh ngày 29/05/2007 hiện nay nếu phải ly hôn do anh đang phải chấp hành án nên đồng ý cho chị Lầu Y K trực niếp nuôi con chung. Về tài sản anh Hờ Bá V khai hai vợ chồng đang có các tài sản: Năm 2006 hai vợ chồng mua 01 ngôi nhà gỗ và đất ở bản Trung tâm, xã M, huyện KS trị giá là 37.000.000 đồng; Năm 2012 mua đất ở Bản L1, xã M, huyện KS, tỉnh Nghệ An với số tiền 70.000.000 đồng; Năm 2015 mua một ngôi nhà gỗ 02 tầng với số tiền 130.000.000 đồng quá trình khai anh không đề nghị Tòa án giải quyết mà anh đề nghị được gặp trực tiếp chị Lầu Y K để hai bên cùng nhau tự thỏa thuận phân chia. Về các khoản nợ: anh Hờ Bá V khai năm 2016 hai vợ chồng có nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh KS – Tây Nghệ An với số tiền vay vốn 50.000.000 (Năm mươi triệu đồng) mục đích vay là để phục vụ cho sinh hoạt gia đình.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh KS – Tây Nghệ An, người đại diện theo pháp là bà Lô Thị Hồng có đơn xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nhưng đã có văn bản nêu ý kiến đối với khoản vay mà anh Hờ Bá V và chị Lầu Y K vay năm 2016 với tổng số tiền vay 50.000.000 (Năm mươi triệu đồng) đến thời điểm hiện nay đã trả được 2.000.000 đồng tiền gốc, tính đến thời điểm ngày 31/7/2019 số nợ còn lại cả gốc và lãi là 48.152.876 (Bốn mươi tám triệu một trăm năm mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi sáu đồng), hiện nay anh Hờ Bá V và chị Lầu Y K giải quyết ly hôn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh KS – Tây Nghệ An đề nghị các bên thanh toán đủ số tiền cả gốc và lãi theo đúng như hợp đồng cam kết.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu;

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Lầu Y K và anh Hờ Bá V được ly hôn nhau. Về con, giao con cho chị Lầu Y K trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lầu Y K. Về tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về các khoản nợ, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chị Lầu Y K và anh Hờ Bá V phải thanh toán số nợ đang vay nợ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh KS – Tây Nghệ An.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ tài liệu và lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lầu Y K yêu cầu ly hôn với anh Hờ Bá V có hộ khẩu thường trú tại Bản L1, xã M, huyện KS, tỉnh Nghệ An nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Anh Hờ Bá V hiện đang chấp hành án dài hạn tại trại giam nên không thể có mặt tại phiên tòa, vì vậy Tòa án căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Hờ Bá V.

[2] Về hôn nhân: Chị Lầu Y K và anh Hờ Bá V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc do anh Hờ Bá V vi phạm pháp luật và chấp hành hình phạt 16 năm, chị Lầu Y K và anh Hờ Bá V hay xẩy ra mây thuẫn, thấy rằng tương lai xây dựng hạnh phúc gia đình khó có thể thực hiện được. Như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó đủ cơ sở để quyết định cho chị Lầu Y K và anh Hờ Bá V được ly hôn nhau.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, con đầu tên là Hờ Bá T sinh ngày 20/02/2005 và con thứ hai tên là Hờ Bá X sinh ngày 29/05/2007 ly hôn chị Lầu Y K yêu cầu được nuôi 02 con và không yêu cầu anh Hờ Bá V cấp dưỡng nuôi con chung. Xét anh Hờ Bá V đang phải chấp hành án phạt tù tại trại giam nên không có khả năng và điều kiện để nuôi con và anh cũng đồng ý giao con cho chị Lầu Y K nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và theo nguyện vọng của hai cháu cần giao 02 cháu Hờ Bá T và cháu Hờ Bá X cho chị Lầu Y K trực tiếp nuôi dưỡng, chị Lầu Y K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hờ Bá V.

[4] Về tài sản: Cả hai bên đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, sau này nếu có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[5] Về các khoản nợ: Năm 2016 chị Lầu Y K và anh Hờ Bá V có vay nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh KS – Tây Nghệ An số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Hiện nay chị Lầu Y K và anh Hờ Bá V ly hôn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan yêu cầu các đương sự tiếp tục thực hiện hợp đồng cam kết trả nợ theo đúng quy định. Xét, hiện nay anh Hờ Bá V đang phải chấp hành án tại trại giam không thể thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, chị Lầu Y K tự nguyện chấp nhận chịu trách nhiệm thanh toán khoản nợ này vì vậy cần chấp nhận, buộc chị Lầu Y K phải có nghĩa vụ trả nợ số tiền tính đến thời điểm ngày 31/7/2019 số nợ còn lại là 48.152.876 (Bốn mươi tám triệu một trăm năm mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi sáu đồng) cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh KS – Tây Nghệ An.

[5] Về án phí: Chị Lầu Y K là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn đồng thời là bên có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 60, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đìnhCăn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lầu Y K được ly hôn với anh Hờ Bá V.

2. Về con cái: Giao 02 con chung là Hờ Bá T (sinh ngày 20/02/2005) và Hờ Bá X (sinh ngày 29/05/2007) cho chị Lầu Y K trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hờ Bá V.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về các khoản nợ: Buộc chị Lầu Y K có nghĩa phụ thanh toán số tiền đã vay vốn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh KS - Tây Nghệ An tính đến thời điểm ngày 31/7/2019 số nợ còn lại là 48.152.876 đồng (Bốn mươi tám triệu một trăm năm mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi sáu đồng) và số tiền lãi suất phát sinh cho đến khi thanh toán hết số tiền vay theo hợp đồng vay vốn ngân hàng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

5. Về án phí: Buộc chị Lầu Y K phải chịu các khoản án phí sau:

- 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo liên lai số 0001291 ngày 25/3/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- 2.407.644đ (Hai triệu bốn trăm linh bảy nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo phần nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2019/HNGĐ-ST ngày 20/08/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:29/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kỳ Sơn - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về