Bản án 29/2018/HS-ST ngày 10/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 29/2018/HS-ST NGÀY 10/05/2018 VỀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh S; Sinh ngày: 27/8/1991; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 1025/5H đường HG, Phường K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh;Tạm trú: Tổ 8, ấp Vĩnh Phước, xã PL, huyện CG, tỉnh LA;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thanh H và bà: Trần Thị Ngọc P; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Ngày 01/4/2014, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 35/2014/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/12/2016 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 932/GCN của Trại giam Tống Lê Chân); Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 14/12/2017.

Nhân thân: - Ngày 09/9/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội « Trộm cắp tài sản » (Bản án số: 144/2008/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2009 (Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số: 645/GCN của Trại giam Tống Lê Chân).

- Ngày 08/7/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi nhiều lần trộm cắp tài sản công dân và sử dụng hung khí đánh người (Quyết định số: 3924/QĐ-UBND).(có mặt)

- Bị hại:

Bà Lê Thị Hồng N; Sinh năm: 1993; Trú tại: 17 đường số 84, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với ý định đi tìm tài sản chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. Vào lúc 03 giờ 30 phút ngày 14/12/2017, C (không rõ lai lịch) điều khiển xe gắn máy (loại xe Yamaha Nouvo, không rõ biển số) chở Nguyễn Thanh S chạy lòng vòng tìm tài sản. Khi chạy đến nhà số 17 đường số 84, Phường J, Quận F, C thấy cửa ban công lầu 1 mở nên chỉ cho S thấy. S liền leo lên cây cột điện nhà kế bên để di chuyển qua ban công lầu 1 nhà số 17. Còn C đứng dưới đất giữ xe và cảnh giới.

Về phần S, sau khi đột nhập vào nhà số 17, S vào phòng ngủ của bà Lê  Thị Hồng N lấy 02 chiếc điện thoại di động cùng hiệu Samsung cất vào túi quần rồi tiếp tục vào phòng đối diện lấy 01 máy tính bảng đang để trên đầu tủ đem ra khỏi phòng để trên yên xe đạp (loại xe tập thể dục) thì bị bà N phát hiện tri hô. Thấy vậy, S bỏ chạy ra ban công lầu 1 định tẩu thoát. Lúc này, Công an Phường J, Quận F trên đường tuần tra nghe tiếng tri hô của bà N đã chạy đến. Thấy Công an, S chạy ngược vào phòng của bà N lấy con dao rồi chạy lên sân thượng nhà bà N định tẩu thoát thì bị Công an Phường J, Quận F đuổi theo bắt giữ.

Tại Cơ  quan điều tra Công an Quận 6: Nguyễn Thanh S khai nhận đã thực hiện hành vi nêu trên.

Bị hại và người làm chứng khai cũng tương tự.

Tại Văn bản số: 2191/TCKH ngày 18 tháng 12 năm 2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 6 thống nhất giá như sau:

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7, có số Imei: 355228083382422, có giá là: 3.400.000 đồng.

+01 điện thoại di động hiệu Samsung J2, có số 359046/08/514301/4, có giá là: 1.200.000 đồng. 

+ 01 máy tính bảng Tab Air, Imei: 359594/06/074067/6, có giá là:3.100.000 đồng

Đối với người tên C, Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch.

Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKS-Q6 ngày 27 tháng 3 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội « Trộm cắp tài sản » theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh S khai nhận chính bị cáo đã cùng tên C thực hiện hành vi đột nhập vào nhà số 17 đường số 84, Phường J, Quận F lấy trộm 02 chiếc điện thoại di động cùng hiệu Samsung màu hồng và 01 máy tính bảng màu đen vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 14/12/2017 và bị bắt quả tang như bản cáo trạng nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Nguyễn Thanh S từ 02 năm đến 03 năm tù về tội « Trộm cắp tài sản » theo khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu, nên không đề nghị giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao Thái Lan cán màu vàng dài khoảng 20cm.

Trả lại bị cáo Nguyễn Thanh S 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số Imei: 355133/00/211778/8.

Các vật chứng khác, Cơ quan điều tra đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Thanh S nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 
6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh S tại phiên tòa là phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị hại Lê Thị Hồng N, của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh S với ý định phạm tội có từ trước, đã lén lút đột nhập vào nhà số 17 đường số 84, Phường J, Quận F chiếm đoạt của bà Lê Thị Hồng N 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 trị giá 3.400.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J2 trị giá 1.200.000 đồng, 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab Air trị giá 3.100.000 đồng (tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 7.700.000 đồng), là phạm tội « Trộm cắp tài sản ». Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh S là quá liều lĩnh, không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân.

Bị cáo Nguyễn Thanh S có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của mình gây ra, nhưng do tham lam, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên.

[3] Bị cáo Nguyễn Thanh S đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Mặt khác, bị cáo còn có nhân thân xấu, đó là ngày 09/9/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội « Trộm cắp tài sản »; ngày 08/7/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi nhiều lần trộm cắp tài sản công dân và sử dụng hung khí đánh người. Cho thấy, tuy đã được cải tạo, giáo dục, nhưng bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà ngược lại vẫn tiếp tục sống buông thả để ngày càng lún sâu vào con đường phạm tội.

[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh S tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành, việc bị cáo bị phát hiện và thu giữ lại tài sản là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị cáo, do đó Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương đối dài mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản đã được thu hồi trả bị hại); có thái độ thành khẩn nhận tội, nên

Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì bị cáo Nguyễn Thanh S còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Việc bồi thường thiệt hại: Bị hại Lê Thị Hồng N đã nhận lại tài sản gồm: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J2 vỏ màu hồng, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 vỏ màu hồng, 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab Air vỏ màu đen (theo Biên bản về việc trả lại tài sản ngày 25/12/2017 - BL75) và không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

7] Việc xử lý vật chứng: 01 con dao Thái Lan cán màu vàng dài khoảng 20cm, là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Còn chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số Imei: 355133/00/211778/8 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh S. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ chứng cứ xác định bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. (theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 36/PNK ngày 01 tháng 3 năm 2018 của Công an Quận 6 - BL88).

Theo lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh S thì còn có một người tên C cùng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, nhưng Cơ quan điều tra không xác định được lai lịch của người này và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị lúc nào Cơ quan điều tra làm rõ giải quyết sau, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Bị cáo Nguyễn Thanh S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội: « Trộm cắp tài sản ».

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2017.

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) con dao Thái Lan cán màu vàng dài khoảng 20cm.

- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại bị cáo Nguyễn Thanh S 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số Imei: 355133/00/211778/8.

- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thanh S phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Nguyễn Thanh S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.


91
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 29/2018/HS-ST ngày 10/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:29/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 6 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về