Bản án 28/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 28/2018/HS-ST NGÀY 30/11/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2018/TLST - HS, ngày 21 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2018/QĐXXST - HS, ngày 26 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Việt T, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1990, tại thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố 16, thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kiều H (đã chết) và bà Đặng Thị V (đã chết); có chồng là Nguyễn Anh T nhưng đã ly hôn, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13 tháng 11 năm 2018; có mặt.

- Bị hại: Anh Đặng Thanh T, sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ dân 16, thị C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Trung T; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ 10 phút, ngày 10 tháng 11 năm 2018, Nguyễn Việt T đi qua nhà anh Đặng Thanh T ở tổ dân phố 16, thị trấn C, huyện Cát Hải thì phát hiện thấy chiếc xe Jupiter BKS 16L2-2592 dựng ngoài ngõ vẫn cắm chìa khóa, nên nảy ra ý định trộm cắp bán đi lấy tiền ăn tiêu. Nguyễn Việt T đi đến mở khóa, điều khiển xe đi đến khu vực nhà bỏ hoang ở bãi tắm T, thị trấn C cất giấu. Sau đó, Nguyễn Việt T đi bộ về nhà, nói với bạn trai là Trần Trung T mượn được xe và rủ T chở mình vào nội thành Hải Phòng. T đồng ý và cả hai đi lấy xe. T điều khiển xe chở T đi về bến phà Cái Viềng, xã Phù Long, huyện Cát Hải thì bị Công an huyện Cát Hải phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG, ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cát Hải kết luận: Xe mô tô YAMAHA Jupiter màu sơn đỏ, trắng, BKS 16L2 - 2592 đã qua sử dụng giá trị 5.500.000 đồng.

Nguyễn Việt T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13 tháng 11 năm 2018.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải đã trả lại cho anh Đặng Thanh T chiếc xe mô tô Jupiter, BKS 16L2 - 2592 đã qua sử dụng.

Đối với anh Trần Trung T do không biết chiếc xe mô tô do T trộm cắp, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải không xử lý.

Tại phiên tòa bị cáo khai: Vào khoảng 8 giờ, ngày 10 tháng 11 năm 2018 sau khi đi ăn sáng trở về, bị cáo phát hiện thấy 01 chiếc xe mô tô Jupiter, BKS 16L2 - 2592 của anh Đặng Thanh T đang dựng tại ngõ và vẫn cắm chìa khóa. Bị cáo nảy ra ý định trộm cắp chiếc xe để đi vào nội thành bán lấy tiền ăn tiêu. Bị cáo điều khiển xe đến khu vực bãi tắm T cất giấu. Sau đó bị cáo trở về nhà gọi bạn trai là Trần Trung T dậy chở bị cáo vào nội thành nhưng không nói cho T biết chiếc xe bị cáo trộm cắp. Khi cả hai điều khiển xe đến bến phà Cái Viềng, xã Phù Long thì bị Công an huyện bắt giữ cùng tang vật.

Bị hại anh Đặng Thanh T khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải: Vào khoảng 7 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 11 năm 2018 anh chở đồ về nhà do đường vào nhà ngõ hẹp nên anh dựng xe ở ngoài ngõ và vẫn để nguyên chìa khóa ở xe. Đến khoảng hơn 8 giờ khi anh ra lấy xe thì phát hiện đã bị mất, anh báo Công an huyện Cát Hải và được Công an huyện bắt giữ đối tượng trộm cắp chiếc xe trả lại cho anh và không yêu cầu bồi thường.

Người làm chứng Trần Trung T khai: Vào khoảng 8 giờ 15 phút, ngày 10 tháng 11 năm 2018 khi T là bạn gái đi ăn sáng về nói có mượn xe mô tô của bạn và bảo anh chở vào nội thành. Anh đồng ý và chở T đến bến phà Cái Viềng, xã Phù Long thị bị Công an huyện Cát Hải bắt giữ cùng chiếc xe môt tô Jupiter, BKS 16L2 - 2592. Anh không biết chiếc xe T bảo anh chở vào nội thành là xe mà T trộm cắp.

Từ những hành vi nêu trên tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ - VKS, ngày 21 tháng 11 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Việt T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải giữ quyền công tố và tranh luận hành vi phạm tội của bị cáo là lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản để rồi chiếm đoạt tài sản của họ. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 5.500.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản như Quyết định truy tố của Viện Kiểm sát. Đại diện Viện Kiểm sát phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Việt T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh cũng như về hình phạt, tuy nhiên bị cáo biết mình vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, nuôi dạy các con trưởng thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

 [2] Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú đều căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự đồng thời được Viện Kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Quyết định trưng cầu định giá tài sản, Kết luận định giá tài sản đều được các Cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tống đạt các giấy tờ tố tụng cho bị can, bị cáo, bị hại, người làm chứng được đảm bảo, đúng thời gian, đúng pháp luật.

 [3] Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa đúng trình tự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo việc xét xử trang nghiêm, đảm bảo quyền cho những người được thạm gia tố tụng tại phiên tòa.

 [4] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

- Về chứng cứ:

 [5] Bị cáo Nguyễn Việt T khai: Vào khoảng 8 giờ, ngày 10 tháng 11 năm 2018 bị cáo có trộm cắp 01 chiếc xe mô tô Jupiter, BKS 16L2 - 2592 của anh Đặng Thanh T tại tổ dân phố 16, thị trấn C. Sau khi lấy được xe bị cáo điều khiển xe đến khu vực bãi tắm T cất giấu rồi trở về nhà gọi bạn trai là Trần Trung T chởbị cáo vào nội  thành nhưng không nói cho T biết chiếc xe bị cáo trộm cắp. Khi cả hai điều khiển xe đến bến phà Cái Viềng, xã Phù Long thì bị Công an huyện bắt giữ cùng tang vật.

 [6] Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 5.500.000 đồng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải thu hồi trả lại cho bị hại.

 [7] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, cũng như chấp nhận Quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ -VKS, ngày 21 tháng 11 năm 2018 truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

 [8] Lời khai trên đây của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người, người làm chứng, phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

- Về áp dụng pháp luật:

 [9] Hành vi phạm tội của bị cáo là lén lút, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người có tài sản để rồi chiếm đoạt tài sản của họ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, tài sản bị cáo chiếm có giá trị là 5.500.000 đồng.

 [10] Từ những phân tích trên đây có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Việt T phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy Quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải đối với bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: [11] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị của địa phương vì vậy cần phải đưa bị cáo ra xét xử để làm gương răn đe kẻ khác thì mới có tính giáo dục và phòng ngừa chung.

 [12] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn đã thu hồi trả lại cho bị hại, người phạm tội là phụ nữ có thai. Từ những phân tích nêu trên cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng ngoài lần phạm tội lần này bị cáo là người chấp hành tốt đường lối, chủ trương pháp luật của Nhà nước vì vậy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần để bị cáo tại địa phương nơi thường trú, kết hợp với chính quyền, đoàn thể xã hội, gia đình theo dõi, giáo dục tạo điều kiện cho bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, cho gia đình.

 [13] Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại, mặt khác bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [14] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mức chịu án phí căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự xử phạt: Nguyễn Việt T 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục; người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:28/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cát Hải - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về