Bản án 28/2018/HNGĐ-ST ngày 26/07/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 28/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/07/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 131/2018/TLST-HNGĐ ngày 10/4/2018 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2018, Thông báo mở lại phiên tòa số 20/2018/TB-XX ngày 11/7/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Mạnh C - Sinh năm 1959

Địa chỉ: Tổ 10, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái - Có mặt

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm 1960

Địa chỉ: Tổ 28, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh C trình bày:

Ông C kết hôn với bà Nguyễn Thị L ngày 06/3/1985 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Hoàng Liên Sơn (Nay là tỉnh Yên Bái) trên cở sở tự nguyện có tìm hiểu. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa.

Nay ông C xác định tình cảm vợ chồng đã hết, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà L. 

Về nuôi con chung: Ông C và bà L có 02 con chung là: Nguyễn Thị H – sinh năm 19xx và Nguyễn Mạnh C – sinh năm 19xx. Hiện các con đều đã trưởng thành nên ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản: Ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai có trong hồ sơ bà L trình bày: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như ông C trình bày là đúng. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà đồng ý ly hôn.

Về nuôi con chung: Bà L và ông C có hai con chung như ông C đã trình bày. Hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị L đã được tống đạt hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự từ khi thụ lý và trong quá trình giải quyết vụ án đến khi nghị án đã đúng theo quy định của pháp luật; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; giải quyết các vấn đề về án phí, kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Mạnh C và bà Nguyễn Thị L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Hoàng Liên Sơn (Nay là tỉnh Yên Bái) ngày 06/3/1985 là hôn nhân hợp pháp.Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện vợ chồng đã ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Ông C và bà L đều xác định tình cảm vợ chồng đã hết và xin được ly hôn.

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng bà L vắng mặt, nên toà án không tiến hành hoà giải được. Qua bản tự khai có trong hồ sơ vụ án bà L cũng yêu cầu giải quyết được ly hôn.

Kết quả xác minh tại địa phương nơi bà L cư trú xác định bà L và ông C không chung sống với nhau, bà L thường xuyên không ở tại nơi cư trú.

Tại phiên toà ông C vẫn xác định tình cảm vợ chồng đã hết và yêu cầu xin ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng của ông C và bà L đã hết, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Để đảm bảo quyền, lợi  hợp pháp cho các bên đương sự. Xét yêu cầu ly hôn của ông C là có căn cứ và cần được chấp nhận.

Về nuôi con chung: Ông C và bà L đều xác nhận có 02 con chung là: Nguyễn Thị H – sinh năm 19xxvà Nguyễn Mạnh C – sinh năm 19xx, hiện các con đều đã trưởng thành và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản: Ông C và bà L đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điều 147, khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228, điều 271, điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Mạnh C được ly hôn bà Nguyễn Thị L.

Về án phí: Ông Nguyễn Mạnh C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông đã nộp theo biên lai số: AA/2017/0000454 ngày 10/4/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Yên Bái. Ông C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 28/2018/HNGĐ-ST ngày 26/07/2018 về ly hôn

Số hiệu:28/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Yên Bái - Yên Bái
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về