Bản án 27/2019/DS-PT ngày 26/04/2019 về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 27/2019/DS-PT NGÀY 26/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ L số: 08/2018/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2019 về việc V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tặng cho QSD đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2018/DSST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm K bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 41/2019/QĐXXPT-DS ngày 15 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1 - Nguyên đơn: Cụ Vi Thị P - sinh năm 1942 (có mặt).

Anh Nguyễn Văn L - sinh năm 1981(có mặt).

Đa chỉ đều ở: Khu 02, xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ.

2 - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1964.

Đa chỉ: Khu 02, xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đỗ Thanh H và Nguyễn Văn B – Công ty luật TNHH Anh Minh – Đoàn luật sư tỉnh Phú thọ (có mặt ông B, vắng mặt bà H).

3 - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1963, bà Nguyễn Thị V - sinh năm 1968 (Vợ ông T); cư trú tại: Khu 02, xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

3.2. Anh Nguyễn Văn S - sinh năm 1974, chị Nguyễn Thị N - sinh năm 1977 (Vợ anh S); cư trú tại: Khu 02, xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ ( có mặt).

3.3. Anh Nguyễn Văn T- sinh năm 1985, chị Triệu Thị H- sinh năm 1990 (Vợ anh Nguyễn Văn T); cư trú tại: Khu 02, xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

* Các con ủy quyền cho bà T đại diện (4 người):

3.4. Chị Nguyễn Thị H- sinh năm 1987; cư trú tại: Xã Tân Y, huyện Vĩnh B, thành phố Hải Phòng.

3.5. Chị Nguyễn Thị T- sinh năm 1989; cư trú tại: Khu đô thị mới T, huyện T, thành phố Hà Nội.

3.6. Chị Nguyễn Thị T - sinh năm 1991; cư trú tại: Khu 08, thị trấn H, huyện , tỉnh Phú Thọ.

3.7. Anh Nguyễn Văn T- sinh năm 1993; cư trú tại: Khu 02, xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ.

3.8. Ủy ban nhân dân xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ: Bà Trần Thị Thu Nga; chức vụ: Chủ tịch UBND xã Văn B.

3.9. Ủy ban nhân dân huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ: Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc T; chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Cẩm K (Những người có quyền lợi liên quan Tòa án không triệu tập).

4- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T – bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn là cụ Vi Thị P, anh Nguyễn Văn L trình bày: Chồng cụ P là cụ Nguyễn Văn Thông (Chết năm 1989). Vợ chồng các cụ Thông, P có 07 con gồm: Nguyễn Văn Tứ (chết năm 2015 - vợ là Nguyễn Thị T), ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Ngũ, chị Nguyễn Thị Kinh, anh Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn T. Các cụ Thông, P có thửa đất thổ cư số 64, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.448m2 tại khu 02, xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ. Năm 1989, cụ Thông chết không để lại di chúc, cụ P quản L, sử dụng diện tích đất này. Ngày 18/11/1999, UBND huyện Sông Thao (Nay là huyện Cẩm K) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Vi Thị P. Cụ P đồng ý cho vợ chồng các gia đình xây nhà trên diện tích đất này gồm:

Năm 1998 vợ chồng ông Tứ, bà T xây nhà Năm 2002 vợ chồng anh T xây nhà Năm 2004 vợ chồng ông T xây nhà Năm 2013 vợ chồng anh S xây nhà.

Ngày 12/9/2014, cụ P tổ chức họp gia đình để chia đất cho các con trên cơ sở ai đã làm nhà vị trí nào, thì chia cho vị trí đó. Do ông Ngũ, chị Kinh từ chối không nhận, nên đất được chia cho 04 con, gồm: Nguyễn Văn Tứ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T theo phần đất đã xây dựng.

Đi với anh Nguyễn Văn L khi đó đang làm thuê ở thành phố Hà Nội, nên cụ P cùng 04 người con được chia đất thống nhất gửi suất đất chia cho anh L là khoảng 200m2 vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSD đất) của gia đình ông Tứ, khi nào anh L về thì ông Tứ sẽ tách trả đất cho anh L. Khi ông Tứ xây nhà, cụ P ở cùng nhà gia đình ông Tứ. Năm 2002, cụ P sang ở cùng nhà anh T. Năm 2012, ông Tứ lại đón cụ P về ở cùng. Sau khi ông Tứ chết, nhiều lần cụ P bảo bà T tách đất trả cho anh L nhưng bà T chần chừ rồi không đồng ý tách nữa. Do mâu thuẫn nên tháng 9/2017, cụ P xây nhà ở riêng trên phần đất dự S chia cho anh L. Nay cụ P, anh L khởi kiện yêu cầu gia đình bà T tách trả cho anh L khoảng 200m2 để làm nhà ở, còn nếu không thì cụ P yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với gia đình ông Tứ bị vô hiệu.

+ Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà xác nhận nguồn gốc đất, việc tặng cho quyền sử dụng đất với gia đình đúng như lời trình bày của nguyên đơn. Tuy nhiên bà T không thừa nhận việc gửi suất đất chia cho anh L vào đất đã cho gia đình bà, không đồng ý tách trả 200m2 cho anh L. Bà T chỉ đồng ý góp tiền cùng ông T, ông S, anh T theo bảng giá đất do nhà nước quy định cho anh L mua đất nơi khác theo nội dung biên bản họp gia đình ngày 12/9/2014.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T, anh S, anh T, các chị V, N, H thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các chị H, Thảo, Thơm và anh Trung đồng ý với ý kiến do bà Nguyễn Thị T trình bày.

+ UBND xã Văn B trình bày: Ông Nguyễn Văn Thông (chết năm 1989), bà Vi Thị P được giao quyền sử dụng thửa đất số 64, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.477m2 tại khu 02, xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ và đã được UBND huyện Sông Thao (nay là Cẩm K) cấp Giấy CNQSD đất ngày 18/11/1999 đứng tên chủ hộ là Vi Thị P.

Ngày 15/12/2006, sau khi đổi đất để nắn đường giao thông xóm, thửa đất số 64 còn 1.448,6m2 (400m2 đất ở, 1.048,6m2 đất vườn).

Ngày 12/9/2014, gia đình cụ Vi Thị P họp để phân chia đất cho các con. Sau khi họp gia đình, bà P có đơn xin tặng cho quyền sử dụng đất gửi UBND xã Văn B và UBND xã Văn B đã hướng dẫn cho gia đình cụ P hoàn thiện hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/5/2015, UBND huyện Cẩm K ban hành quyết định số 936 về việc công nhận, tách thửa, thu hồi quyền sử dụng đất và cấp Giấy CNQSD đất, cụ thể như sau: hộ ông Tứ, bà T được tặng cho 650,5m2 (100m2 đất ở, 550,5m2 đất vườn), hộ ông T, bà V được tặng cho 322,8m2 (100m2 đất ở, 222,8m2 đất vườn), hộ anh S, chị N được tặng cho 216,9m2 (100m2 đt ở, 116,9m2 đt vườn), hộ anh T, chị H được tặng cho 258,4m2 (100m2 đất ở, 158,4m2 đất vườn). UBND xã Văn B đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cẩm K giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

+ UBND huyện Cẩm K trình bày: Ngày 22/10/2014, bà Vi Thị P có đơn xin tặng cho quyền sử dụng đất cho 04 người con, trong đó có ông Nguyễn Văn Tứ với diện tích là 650,5m2. UBND huyện Cẩm K đã cấp Giấy CNQSD đất cho ông Tứ, bà T. Sau khi Tòa án xét xử xong, trên cơ sở quy định của pháp luật đất đai, UBND huyện Cẩm K sẽ căn cứ bản án để thực hiện các nội dung liên quan.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn L, cụ Vi Thị P yêu cầu bị đơn tách trả lại quyền sử dụng phần đất mà cụ P đang sử dụng có diện tích là 183m2 cho anh L.

+ Tại bản án dân sự sơ thẩm số 20/2018/DSST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm K đã áp dụng: Khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 125; Điểm a Khoản 1 Điều 126; Điều 467; Khoản 1 Điều 470 của Bộ luật dân sự 2005; Khoản 1 Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 1 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Khon 1 Điều 29 Luật hôn nhân gia đình; Án lệ số 14/2017/AL về công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng, thông qua ngày 14/12/2017; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Vi Thị P và anh Nguyễn Văn L.

+ Xác nhận 183m2 đất vườn (Theo chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,18,17,16,1 trong sơ đồ kèm theo), trong tổng diện tích đất 650,5m2 tại thửa số 353, tờ bản đồ 08 tại khu 02 xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ thuộc quyền sử dụng của anh Nguyễn Văn L.

Anh Nguyễn Văn L có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

+ Ông Nguyễn Văn T cùng vợ là bà Nguyễn Thị V, anh Nguyễn Văn S cùng vợ là chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn T cùng vợ là chị Triệu Thị H có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch thực hiện điều kiện của hợp đồng cho bà Nguyễn Thị T số tiền tổng cộng là 10.980.000đ. Trong đó: kỷ phần của ông T, bà V là 3.660.000đ, anh S, chị N là 3.660.000đ, anh T, chị H là 3.660.000đ.

+ Anh Nguyễn Văn L có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 13.666.316đ (Mười ba triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn ba trăm mười sáu đồng).

+ Kiến nghị UBND huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn Tứ, bà Nguyễn Thị T theo quy định của pháp luật. Ngoài ra bản án còn tuyên lãi suất trả chậm, S án phí, chi phí thẩm định, tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

+ Ngày 10/12/2018 bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo với nội dung không nhất trí bản án sơ thẩm:

- Mẹ chồng đã chia đất cho 4 người con, đất đã được tách thửa, đã có GCNQSD đất… không phải là hợp đồng tặng cho có điều kiện.

-  Tại biên bản họp gia đình ngày 12/9/2014 đã chia tách đất nhưng cụ P lại ra ở riêng, làm nhà riêng 28m2 trên đất của gia đình bà, nhưng Tòa án lại cắt 183m2 cho anh L không có căn cứ.

- Khi khởi kiện không có cụ P, chỉ có anh L, nay lại có cụ P kiện bà.

-  Tại phiên tòa hôm nay, bà T giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị xét xử theo đơn, lấy tổng 400m2 đất ở chia 5 = 80m2 x 160.000đ/m2 = 12.000.000đ để thanh toán cho anh L, còn lại là đất vườn x 80.000đ/m2 để S cho anh L.

- Luật sư trình bày ý kiến được tóm tắt: Ba lần cụ P đã thể hiện ý trí cho 4 con, không có lần nào thể hiện việc gửi nhờ phần đất của anh L. Trách nhiệm chung của 4 người con đối với anh L chứ không phải trách nhiệm của một mình bà T. Đề nghị thanh toán cho anh L bằng tiền theo giá đất quy định của chính quyền địa phương, gia đình bà T sẽ thanh toán nhiều hơn những người khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về nội dung đơn kháng cáo của bà T: Đề nghị xem xét mẹ chồng đã chia đất cho 4 người con, đất đã được tách thửa, đã có GCNQSD đất, không phải là hợp đồng cho có điều kiện.

Tại biên bản họp gia đình ngày 12/9/2014 không ghi điều kiện tặng cho nhưng đã ghi “…Riêng chú L do điều kiện sinh hoạt chưa ổn định, gia đình thống nhất khi nào chú L chuyển về quê hoặc có điều kiện làm nhà, các anh chị phải có trách nhiệm nhường đất thổ cư hoặc hỗ trợ mua đất ngoài theo quy định của nhà nước…”. Đúng là biên bản trong cuộc họp gia đình không có từ nào ghi chữ gửi nhờ đất của anh L nhưng đã ghi “….khi nào chú L chuyển về quê hoặc có điều kiện làm nhà, các anh chị phải có trách nhiệm nhường đất thổ cư…” đây chính là điều kiện trong việc tặng cho mà các đương sự phải tuân thủ, xã Văn B là xã vùng quê, các hộ gia đình không có điều kiện khá giả, bản thân các đương sự trong vụ kiện đã có ý chia phần đất cho gia đình bà T nhiều nhất, giả sử 650,5m2 – 183m2 = 467,5m2 thì phần còn lại này của gia đình bà T vẫn là lớn nhất. Theo ý kiến của chính quyền địa phương thì anh L không thuộc đối tượng ưu tiên cấp đất, nếu anh L về thì anh phải nhận chuyển nhượng hoặc nhận tặng cho theo quy định (BL 201a). Nay anh L có nhu cầu chia đất để sử dụng tại quê nhà, anh đang phải ở thuê ở Hà Nội, không có nhà ở, yêu cầu của anh là chính đáng, việc chia đất là phù hợp. Cụ P đã làm nhà riêng trên phần đất mà cụ đề nghị được cắt để chia cho anh L là sự tự nguyện của cụ, vừa phù hợp với tình cảm mẹ con, vừa thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con, vừa phù hợp với quyền B đẳng của những người trong cùng hàng thừa kế mà Bộ luật dân sự đã quy định. Như vậy là vừa phù hợp với đạo L của con người vừa phù hợp với pháp luật.

[2] Bà T kháng cáo với nội dung: Khi khởi kiện không có cụ P, chỉ có anh L, nay lại có cụ P kiện bà. Hội đồng xét xử thấy rằng tại đơn khởi kiện có ghi tên cụ P và anh L, có chữ ký của cụ P (BL 29). Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí là anh L chứ không phải cụ P ( vì cụ P là người cao tuổi, được miễn nộp tạm ứng án phí ( BL 33) .Thông báo thụ L thì vẫn có tên người khởi kiện là cụ P và anh L. Tại Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vẫn ghi “nguyên đơn là cụ P và Anh L (BL 88)…do đó không có căn cứ nào việc thể hiện thẩm P lại bổ sung nguyên đơn là cụ P “không đúng quy định”.

[3]Tại cấp phúc thẩm, chị Nguyễn Thị Kinh có đơn trình bày chị không được ký vào biên bản phiên họp gia đình ngày 12/9/2014, tuy nhiên chị cũng có đơn không nhận thừa kế, trong suốt thời gian qua, chị không có ý kiến gì khi các thừa kế khác đã xây dựng, làm nhà riêng, đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 4 người trên phần đất của bố mẹ, chị cũng vẫn sinh sống cùng xã Văn B, có nghĩa là chị đã biết việc họ làm nhà, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có nghĩa là nhất trí đối với việc gia đình đã phân chia đất cho các thừa kế, do đó biên bản đó vẫn có hiệu lực, thể hiện ý trí của các thừa kế.

Với các phân tích, đánh giá nêu trên thì án sơ thẩm đã xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của cụ P và anh L là có căn cứ, do đó kháng cáo của bà T là không được chấp nhận.

[4] Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhËn kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm là phù hợp với pháp luật.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 125; Điểm a Khoản 1 Điều 126; Điều 467; Khoản 1 Điều 470 của Bộ luật dân sự 2005; Khoản 1 Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Án lệ số 14/2017/AL ngày 14/12/2017; Khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

+ Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

+ Xác nhận 183m2 đất vườn (Theo chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,18,17,16,1 trong sơ đồ kèm theo), trong tổng diện tích đất 650,5m2 tại thửa số 353, tờ bản đồ 08 tại khu 02 xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ thuộc quyền sử dụng của anh Nguyễn Văn L.

Anh Nguyễn Văn L có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

+ Ông Nguyễn Văn T cùng vợ là bà Nguyễn Thị V, anh Nguyễn Văn S cùng vợ là chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn T cùng vợ là chị Triệu Thị H có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch thực hiện điều kiện của hợp đồng cho bà Nguyễn Thị T số tiền tổng cộng là 10.980.000đ (Mười triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng). Trong đó: kỷ phần của ông T, bà V là 3.660.000đ (Ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), anh S, chị N là 3.660.000đ (Ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), anh T, chị H là 3.660.000đ (Ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).

+ Anh Nguyễn Văn L có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 13.666.316đ (Mười ba triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn ba trăm mười sáu đồng).

+ Khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thanh toán được số tiền trên thì người phải thi hành án còn phải trả lãi, đối với số tiền trả chậm cho đến khi trả xong số tiền trên, mức lãi suất được quy định tại điều 357 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

+ Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3 - VÒ ¸n phÝ phóc thÈm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận bà T đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 008425 ngày 14/12/2018 của chi Cục thi hành án dân sự huyện Cẩm K.

+ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có khánh cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

+ Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.


4
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về