Bản án 26/2019/DS-ST ngày 11/09/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TNH KIÊN GIANG

BN ÁN 26/2019/DS-ST NGÀY 11/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 11 tháng 9 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2019/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2019/QĐXXST-DS ngày 19/8/2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần (TMCP) A; Trụ sở Tòa nhà Capital Tower, 109 Trần Hưng Đạo, phường A, quận B, thành phố C; người đại diện theo pháp luật ông Phạm Doãn S - Chức vụ: Tổng giám đốc, người đại diện theo ủy quyền ông Võ Thanh T - Phó Giám đốc phụ trách Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận (Có mặt).

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1971; địa chỉ: Khu phố A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ti đơn khởi kiện đề ngày 28/5/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A trình bày:

Ngày 22/4/2016 ông Nguyễn Văn Đ có ký hợp đồng tín dụng số 02/210416/04/870 với Ngân hàng TMCP A chi nhánh tỉnh Kiên Giang số tiền đề nghị vay trong hợp đồng là 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu đồng) mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay là 60 tháng từ ngày 22/4/2016. Bên vay phải trả lãi và trả gốc làm 60 kỳ, 59 kỳ đầu trả 1.170.000 đồng, kỳ cuối trả 970.000 đồng. Lãi suất cho vay là 12,5% /năm, trả lãi hàng tháng, cùng với kỳ trả gốc theo dư nợ giảm dần. Ông Nguyễn Văn Đ đã nhận đủ số tiền 70.000.000 đồng theo hợp đồng kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/4/2016.

Tính đến ngày 12/8/2019 bên vay đã chậm thanh toán gốc và lãi cho Ngân hàng.

Nay tổng số tiền ông Đ còn nợ ngân hàng là 70.349.864 đồng trong đó: Nợ gốc: 52.727.789 đồng; Nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn: 17.621.895 đồng.

Nay Ngân hàng TMCP A đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho Ngân hàng số tiền còn thiếu tính đến ngày 12/8/2019 số tiền là 70.349.684 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 52.727.789 đồng; Nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn: 17.621.895 đồng, số tiền nợ lãi tính theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại hợp đồng tính dụng số 02/210416/04/870, ngày 22/4/2016 kể từ ngày 12/8/2019 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Ti phiên tòa người đại diện của Ngân hàng trình bày: Phía ngân hàng xin thay đổi yêu cầu khởi kiện. Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ phải trả số nợ gốc là 48.427.789 đồng, lãi trong hạn là 11.563.099 đồng, lãi quá hạn gốc là 6.597.306 đồng.

Tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi là 66.588.194 đồng.

Ti bản tự khai đề ngày 03/6/2019 bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Vào tháng 4 năm 2016 ông Đ có ký hợp đồng vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần A vay số tiền 70.000.000 đồng, thỏa thuận cách thức thanh toán hợp đồng chia thành 60 kỳ, mỗi kỳ trả gốc số tiền 1.170.000 đồng cùng lãi, cuối kỳ trả 970.000 đồng. Kỳ đầu tiên trả vào ngày 15/5/2016. Ông Đ trả nợ được 15 kỳ nhưng do điều kiện kinh tế gia đình nên ông Đ không thực hiện được hợp đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả số tiền nợ gốc và lãi thì ông Đ đồng ý, nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông không thể thực hiện tiếp tục hợp đồng. Ông Đ xác định ông còn thiếu Ngân hàng số tiền nợ trên và thống nhất trả nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của ông Đ không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Đ.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tại đơn khởi kiện nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ trả cho Ngân hàng số tiền nợ vay gốc và lãi là 70.349.684 đồng trong đó: Nợ gốc: 52.727.789 đồng; Nợ lãi trong hạn và quá hạn là 17.621.895 đồng. Tại phiên tòa người đại diện của Ngân hàng Thương mại cổ phần A xác định chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 48.427.789 đồng, lãi trong hạn là 11.563.099 đồng và lãi quá hạn là 6.597.306 đồng. Tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi mà Ngân hàng yêu cầu ông Đ trả là 66.588.194 đồng. Quá trình thụ lý Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản” nhưng qua đối chiếu theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì hợp đồng vay tài sản là tiền giữa Tổ chức tín dụng với khách hàng là hợp đồng tín dụng. Do đó, Tòa án xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận thụ lý giải quyết là phù hợp.

[3] Nội dung tranh chấp: Phía nguyên đơn Ngân hàng và bị đơn ông Đ đều thống nhất vào ngày 22/4/2016 ông Đ có vay của chị Ngân hàng A số tiền 70.000.000 đồng và lãi suất hai bên thỏa thuận là 12.5%/năm. Thời hạn cho vay là 60 tháng, đến ngày 22/4/2021 là hết hạn hợp đồng. Phương thức trả nợ là trả từng lần chia thành 60 kỳ, ông Đ thực hiện hợp đồng được 15 kỳ thì không thực hiện nữa. Tính đến ngày 11/9/2019 thì ông Đ còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 48.427.789 đồng và lãi trong hạn là 11.563.099 đồng và lãi quá hạn là 6.597.306 đồng. Phía nguyên đơn là Ngân hàng và bị đơn là ông Đ đều thống nhất số nợ trên nên HĐXX căn cứ Điều 92 (Quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh) của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án công nhận đó là sự thật.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A thấy rằng: Việc Ngân hàng cho ông Đ vay tiền có lập hợp đồng và đều được các bên thừa nhận và thống nhất số tiền vay. Các bên chỉ không thống nhất được với nhau về phương thức và thời gian trả nợ vay. Phía Ngân hàng yêu cầu ông Đ phải trả một lần toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi. Ông Đ xin trả dần hàng tháng theo như hợp đồng tín dụng, nhưng yêu cầu này không được nguyên đơn đồng ý. Mặc dù hợp đồng tín dụng chưa hết hạn nhưng do phía ông Đ không thực hiện đúng theo sự thỏa thuận ban đầu là không trả nợ theo như các kỳ thỏa thuận nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng thì phía Ngân hàng có quyền yêu cầu phía ông Đ thanh toán nợ trước khi hợp đồng tín dụng hết hạn. Do đó, HĐXX có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn Đ trả số tiền nợ gốc cho Ngân hàng số tiền 48.427.789 đồng.

[5] Đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần A về việc yêu cầu trả lãi suất trong hạn là 11.563.099 đồng và lãi suất quá hạn 6.597.306 đồng: Hội đồng xét xử thấy rằng khi cho vay các bên đã thỏa thuận lãi suất vay là 12.5%/năm, bên bị đơn cũng thống nhất không có ý kiến gì. Xét thấy việc tự thỏa thuận lãi suất giữa các bên trong hợp đồng vay là phù hợp theo quy định tại Điều 91 (Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng) của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7 và khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xét thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa các bên trong hợp đồng tín dụng là không vượt quá các quy định của pháp luật về lãi suất nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu tính lãi suất khoản nợ vay, buộc ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 11/9/2019 là 18.160.405 đồng (Trong đó lãi trong hạn là 11.563.099 đồng và lãi quá hạn là 6.597.306 đồng).

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại cổ phần A là có căn cứ để chấp nhận toàn bộ nên Hội đồng xét xử chấp nhận buộc ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền nợ gốc là 48.427.789 đồng và tiền lãi trong hạn và quá hạn tính đến ngày 11/9/2019 là 18.160.405 đồng. Tổng số tiền nợ gốc và lãi ông Đ bị buộc trả cho Ngân hàng là 66.588.194 đồng.

[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 66.588.194 đồng là 66.588.194 đồng x 5% = 3.329.500 đồng. Do bị đơn ông Nguyễn Văn Đ bị buộc trả nợ nên phải chịu toàn bộ tiền án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 26; Điều 35, Điều 39; Điều 92; Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ: Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7 và khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 6; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tun xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần A về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Văn Đ.

Buc bị đơn ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền nợ gốc là 48.427.789 đồng và tiền lãi trong hạn và quá hạn tính đến ngày 11/9/2019 là 18.160.405 đồng. Tổng số tiền nợ gốc và lãi ông Đ bị buộc trả cho Ngân hàng là 66.588.194 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí 3.329.500 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.758.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000179, ngày 31/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

Trưng hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/9/2019). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. /.


9
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về