Bản án 24/2019/DSST ngày 16/08/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 24/2019/DSST NGÀY 16/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Vào ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Châu Thành – Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 94/2019/TLST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2019QĐXX-ST ngày 26 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34A/2019/QĐ-TA ngày 09/8/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV.

Trụ sở: Tòa nhà Capital Tower số 109 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật ông Phạm Doãn S – chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP BĐLV.

Đại diện theo ủy quyền ông Trần Hữu T – chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP BĐLV – Chi nhánh Hậu Giang theo quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20/6/2017 của Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV .

Địa chỉ: số 32 đường Nguyễn Công Trứ, phường 1, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện tham gia tố tụng ông Võ Minh L – chức vụ Phó giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV phòng giao dịch Tân Phú Thạnh theo quyết định ủy quyền số 338/2019/QĐ-LienVietPostBank.HG ngày 23/5/209 của giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV chi nhánh Hậu Giang.

Địa chỉ: 418A, quốc lộ 1, thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

Bị đơn: Ông Võ Văn H.

Bà Huỳnh Thị L.

Cùng địa chỉ: Ấp Phú Tân, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa đại diện nguyên đơn ông Võ Minh L trình bày:

Ngày 27/4/2018 bị đơn vay của nguyên đơn số tiền vay vốn 180.000.000 đồng theo hợp đồng vay tín dụng số HĐTD801201804524, mục đích vay để chăm sóc vườn cam và chanh, thời hạn vay 11 tháng, lãi suất 12.5% trên năm, áp dụng lãi suất thả nổi, định kỳ đều chỉnh 03 tháng trên lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, trả nợ gốc vào cuối kỳ, trả lãi 06 tháng trên lần. Ngày 05/11/2018 bị đơn tiếp tục vay của nguyên đơn số tiền vay vốn 50.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số HDTD801201805597, mục đích vay mua sắm vật dụng gia đình, thời hạn vay 11 tháng, lãi suất 15.5% trên năm, áp dụng lãi suất thả nổi, định kỳ đều chỉnh 03 tháng trên lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, trả nợ gốc vào cuối kỳ, trả lãi 03 tháng trên lần. Khi vay bị đơn có ký hợp đồng thuế chấp số 0090/2014/HĐTC-LienVietPostBank.TPT ngày 02/7/2014, và phụ lục hợp đồng thế chấp số PL01-0090/2014/HĐTC-LienVietPostBank.TPT ngày 24/6/2016 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 039121 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00016 cấp ngày 02/7/2014 cho ông Võ Văn Hùng. Quá trình vay bị đơn trả lãi cho khoản vay ngày 27/4/2018 được 11.507.189 đồng, và trả vốn được 12 đồng. Đối với khoản vay ngày 05/11/2018 bị đơn đã trả lãi được 2.038.356 đồng. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn kể từ ngày 27/3/2019 cho khoản vay ngày 27/4/2018, tính đến ngày 15/7/2019 vốn 179.999.988 đồng, lãi trong hạn 15.862.674 đồng, lãi quá hạn 3.664.110 đồng. Đối với khoản vay ngày 05/11/2018 bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn từ ngày 06/5/2019, tính đến ngày 15/7/2019 vốn 50.000.000 đồng, lãi trong hạn 3.331.507 đồng, lãi quá hạn 35.020 đồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ vốn và lãi cho hai khoản vay tính đến ngày 15/7/2019 tổng 252.893.299 đồng.

Bị đơn Võ Văn H trình bày: Bị đơn đồng ý với lời trình bày của nguyên đơn về hai khoản vay, số tiền vay vốn, lãi suất, thời hạn vay, tài sản thế chấp. Bị đơn thừa nhận nợ vốn và lãi đồng ý trả nợ cho nguyên đơn số nợ vốn và lãi cho hai khoản vay tính tới ngày 15/7/2019 như trình bày của nguyên đơn số tiền tổng vốn và lãi 252.893.299 đồng.

Bị đơn Huỳnh Thị L trình bày: Đồng ý với lời trình bày của ông Võ Văn H và lời trình bày của nguyên đơn, đồng ý trả nợ vốn và lãi của hai khoản vay cho nguyên đơn tính đến ngày 15/7/2019 số tiền tổng vốn và lãi 252.893.299 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trình bày quan điểm: Kể từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định, bị đơn không đúng theo Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi bị đơn trả tiền vay vốn và lãi cho hai khoản vay tới thời điểm xét xử tổng vốn và lãi tổng cho hai khoản vay đến ngày 16/8/2019 là 256.288.629 đồng. Bị đơn tiếp tục trả lãi trên nợ vốn theo hợp đồng tín dụng đã ký với bị đơn đến khi trả hết nợ. Trường hợp bị đơn không trả nợ thì nguyên đơn có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả việc hỏi, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV khởi kiện bị đơn ông Võ Văn H và bà Huỳnh Thị L yêu cầu giải quyết trả nợ vay và lãi và bị đơn có nơi cư trú tại ấp Phú Tân, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Do đó căn cứ vào Điều 26, 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn Võ Văn H và Huỳnh Thị L vắng mặt không lý do lần thứ hai, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn, do đó căn vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về số tiền vay vốn và lãi suất: Nguyên đơn và bị đơn đều khai thống nhất với nhau vào ngày 27/4/2018 bị đơn vay của nguyên đơn số tiền vay vốn 180.000.000 đồng theo hợp đồng vay tín dụng số HĐTD801201804524. Ngày 05/11/2018 bị đơn tiếp tục vay của nguyên đơn số tiền vay vốn 50.000.000 đồng. Thống nhất với nhau về lãi suất thời hạn vay và số tiền lãi bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn. Quá trình vay bị đơn đã trả vốn được 12 đồng tiền vốn và lãi 11.507.189 đồng cho khoản vay ngày 27/4/2018, khoản vay ngày 05/11/2018 bị đơn đã trả lãi được 2.038.356 đồng không có trả nợ vốn. Bị đơn đồng ý trả nợ vốn và lãi cho nguyên đơn. Tại phiên phiên tòa hôm nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ vốn cho hai khoản vay 229.999.988 đồng và lãi cho hai khỏan vay 26.288.641 đồng tính đến ngày 16/8/2019. Tổng vốn và lãi cho hai khoản vay 256.288.629 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tài sản đảm bảo: Để đảm bảo cho hai khoản vay bị đơn đã thế chấp cho nguyên đơn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 039121 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00016 cấp ngày 02/7/2014 cho ông Võ Văn Hùng hợp đồng được chứng thực ngày 07/7/2014 và phụ lục hợp đồng thế chấp được chứng thực ngày 24/6/2016 được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/7/2014. Đây là tài sản chung của vợ chồng bị đơn và hiện bị đơn đang quản lý sử dụng. Nếu bị đơn không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ thì nguyên đơn được liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật.

[4] Tại phiên hòa giải ngày 15/7/2019 hòa giải không thành về án phí và chi phí tố tụng nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 26, 35, 39,147, 157, 227, 228, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Điều 299, 463, 466, Bộ luật dân sự 2015.

Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn ông Võ Văn H và bà Huỳnh Thị L có nghĩa vụ trả nợ vốn cho hai khoản vay số tiền 229.999.988 đồng (hai trăm hai mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín ngàn chín trăm tám mươi tám đồng) và lãi cho hai khoản vay 26.288.641 đồng (hai mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tám ngàn sáu trăm bốn mươi mốt đồng). Tổng vốn và lãi cho hai khoản vay 256.288.629 đồng (hai trăm năm mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tám ngàn sáu trăm hai mươi chín đồng) cho nguyên đơn.

2/ Bị đơn tiếp tục trả lãi trên nợ gốc (vốn) từ ngày 17/8/2019 đến khi trả dứt nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất tính theo hai hợp đồng tín dụng số: HĐTD801201804524 ngày 27/4/2018 và hợp đồng tín dụng số HDTD801201805597 ngày 05/11/2018 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.

3/ Trường hợp bị đơn không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ nguyên đơn được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 0090/2014/HĐTC-LienVietPostBank.TPT ngày 02/7/2014, và phụ lục hợp đồng thế chấp số PL01-0090/2014/HĐTC- LienVietPostBank.TPT ngày 24/6/2016: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 039121 số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00016 diện tích 5.248.6m2 thửa đất số 157 tờ bản đồ số 07 loại đất trồng cây lâu năm, vị trí đất tại ấp Phú Tân, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 02/7/2014 cho ông Võ Văn H.

4/ Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu là 12.814.000 đồng (mười hai triệu tám trăm mười bốn ngàn đồng) nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành - tỉnh Hậu Giang. Nguyên đơn được lại số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp 6.144.000 đồng (sáu triệu một trăm bốn mươi bốn ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0021425 ngày 07/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành - tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành – Hậu Giang. Nguyên đơn được nhận lại tiền chi phí thẩm định 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) sau khi bị đơn nộp.

5/ Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban Nhân dân nơi cư trú.

6/ Trong trường hợp Bản án, Quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự - thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2019/DSST ngày 16/08/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:24/2019/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Hậu Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về