Bản án 26/2018/HS-ST ngày 02/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN S, TP ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 26/2018/HS-ST NGÀY 02/05/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 02 tháng 05 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận S xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 28/2018/HS-ST ngày 29 tháng 03 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 04 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Thị Diễm H. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 23 tháng 11 năm 1992, tại: Q. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 4B phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Trần Tấn Đ (SN 1948) và con bà: Lê Thị N (SN 1950); cùng trú tại: Tổ 4B phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con út; có chồng tên Trần Văn M, sinh năm 1977 (đã bỏ đi từ năm 2010) có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009,nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/01/2018, bị UBND quận S ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi bán dâm.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Phạm C, sinh năm 1990; trú tại: Khu phố 3, phường P, thị xã H, tỉnh K. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1997; trú tại: Xã A, huyện U, tỉnh K. Vắng mặt.

2. Bà Thái Thị T, sinh năm 1973; trú tại: Tổ 36A phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1982; trú tại: Số 25 D, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối 26/11/2017, Trần Thị Diễm H và T ( không rõ lai lịch) thỏa thuận bán dâm qua đêm cho 2 ông P và Nguyễn Văn H với giá 1 triệu đồng/người; H và T cùng 2 ông P và H thuê nhà nghỉ S để thực hiên hành vi mua bán dâm. T và P ở phòng số 06, H và H ở phòng số 08. Đến 06h30 phút ngày 27/11/2017, H sang phòng số 06 gọi ông P về cùng với ông H, do không có chìa khóa phòng nên H nhờ ông Nguyễn Văn S  chủ nhà trọ mở phòng số 06. Khi vào phòng H thấy ông P đang ngủ và để điện thoại di động hiệu Oppo F1S trên đầu giường nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, H lấy điện thoại giấu trong người rồi ra về. Ông P ngủ dậy không thấy điện thoại nên báo Công an phường M. Qua đấu tranh H khai nhận sau khi lấy trộm H mang đến tiệm cầm đồ HH cầm cho bà Thái Thị T 2.000.000 đồng. Tang vật thu giữ: 01 chiếc điện thoại Oppo F1S màu trắng và 2.400.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại 2.000.000 đồng cho chị Thái Thị T.

Người bị hại ông C và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H xác nhận khoảng 22 giờ ngày 26/11/2017, hai ông có mua bán dâm với H và T tại nhà nghỉ S. T và P ở phòng số 06, H và H ở phòng số 08. Đến khoảng 07 ngày 27/11/2017, chủ trọ có mở cửa cho H vào phòng của ông P và tại đây H đã lấy điện thoại di động hiệu Oppo F1S của ông P để trên đầu giường, khi ông P ngủ dậy không thấy điện thoại nên báo Công an phường M.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S xác nhận vào lúc 21 giờ ngày 26/11/2017, ông cho hai cặp nam nữ thuê phòng qua đêm, Phòng số 08 là anh chị H và H ở, phòng số 06 là anh chị T và P ở. Đến 07 giờ sáng ngày 27/11/2017, phòng số 08 trả phòng trước, phòng số 06 còn ngủ nên chị H có nhờ ông lấy chìa khóa để mở cửa phòng gọi người trong phòng số 06 về. Sau khi chị H đi về thì anh P ở phòng số 06 nói đã mất chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F1S.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Thái Thị T xác nhận vào khoảng 08 giờ ngày 27/11/2017, có một người phụ nữ đến tiệm cầm đồ của bà thế chấp 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S với giá 2.000.000 đồng. Khoảng 09 giờ cùng Công an phường M đến tiệm của bà làm việc và bà đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại này cho cơ quan Công an.

Lời khai của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo Trần Thị Diễm H. Theo kết luận giám định số: 03 ngày 12/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận S: 01 chiếc điện thoại Oppo F1S màu trắng  có giá: 3.594.000 đồng.

Cáo trạng số 23/CT- VKS ngày 21/3/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị can Trần Thị Diễm H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị Diễm H phạm tội:“Trộm cắp tài sản”, đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Thị Diễm H từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại hồ sơ thể hiện, người bị hại ông P yêu cầu được nhận lại tài sản là chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu trắng nên cần chấp nhận.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ  liên quan bà Thái Thị T đã nhận lại số tiền 2.000.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu trắng vàng đồng có số IMEI1: 862651039497190, IMEI2: 862651039497182 của ông P do bị cáo H trộm cắp nên cần trả lại cho ông P là có căn cứ.

-Đối với số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn) là tài sản riêng của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. (Toàn bộ số vật chứng này hiện nay do Chi cục Thi hành án quận S, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2018).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như các chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 27/11/2018, Trần Thị Diễm H sang phòng số 06 nhà nghỉ S để gọi ông C về cùng với bạn là Nguyễn Văn H. Khi vào phòng thì thấy ông C đang ngủ và để điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu trắng trị giá 3.594.000 đồng trên đầu giường nên đã lén lút trộm cắp điện thoại trên mang đến tiệm cầm đồ HH cầm lấy 2.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Hành vi trên của bị cáo Trần Thị Diễm H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Trần Thị Diễm H có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình nhưng với ý thức xem thường pháp luật, lười lao động, ham hưởng thụ nên lén lút trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu trắng trị giá 3.594.000 đồng của ông C. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.  Do đó, hành vi này phải được xử lý với mức hình phạt tương xứng để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Xét nhân thân của bị cáo thì thấy:Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 
04/01/2018, bị UBND quận S ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi bán dâm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra biết ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, HĐXX áp dụng điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong khi lượng hình.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại ông C vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện yêu cầu được nhận lại tài sản là chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu trắng. HĐXX xét thấy yêu cầu của ông P là có căn cứ nên chấp nhận. Người có quyền lợi và nghĩa vụ  liên quan bà Thái Thị T đã nhận lại số tiền 2.000.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.

[6]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu trắng vàng đồng có số IMEI1: 862651039497190, IMEI2: 862651039497182 của ông P do bị cáo H trộm cắp nên cần trả lại cho ông P là có căn cứ.

- Đối với số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng) là tài sản riêng của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội nhưng xét thấy cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo cho việc thi hành án. (Toàn bộ số vật chứng này hiện nay do Chi cục Thi hành án quận S, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2018).

Đối với bà Thái Thị T, không biết tài sản mà Trần Thị Diễm H cầm cố là tài sản trộm cắp nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Cơ quan chức năng đã xử lý hành chính về hành vi mua bán dâm của Trần Thị Diễm H, P, Nguyễn Văn H và hành vi thiếu trách nhiệm trong quản lý nhà nghỉ để xảy ra việc mua bán dâm của Nguyễn Văn S, nên HĐXX không đề cập đến.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

[7]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Diễm H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Diễm H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tuyên trả cho ông P 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu trắng vàng đồng có số IMEI1: 862651039497190, IMEI2: 862651039497182.

- Tiếp tục quy trữ số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng) của bị cáo Trần Thị Diễm H để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Toàn bộ số vật chứng này hiện nay do Chi cục Thi hành án quận S, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2018).

4. Án phí HS-ST: Bị cáo Trần Thị Diễm H phải chịu 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


84
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 26/2018/HS-ST ngày 02/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

    Số hiệu:26/2018/HS-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà - Đà Nẵng
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:02/05/2018
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về