Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 23/10/2018 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 26/2018/HNGĐ-ST NGÀY 23/10/2018 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 23 tháng 10 năm 2018, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2018; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Quách Khánh H, sinh năm: 1990. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

HKTT: 134 Ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

Địa chỉ hiện tại: Số C 03/50, phường 8, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Ông Mã Chấn Q, sinh năm 1977; (Vắng mặt)

Địa chỉ: 134 Ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/6/2018 nguyên đơn bà Quách Khánh H trình bày:

Vào năm 2015, bà H và ông Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, bà H và ông Q sống hạnh phúc đến tháng 07/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà H và ông Q đã sống ly thân từ tháng 10/2017 cho đến nay. Trong thời gian chung sống, Bà H và ông Q không có con chung, cũng không tạo lập được tài sản chung. Về nợ chung: Không có.

Nay bà Quách Khánh H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: xin ly hôn với ông Mã Chấn Q.

- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Mã Chấn Q: Kể từ khi thụ lý đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Q, nhưng ông không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như tham dự theo các giấy triệu tập của Tòa. Tại biên bản xác minh ngày 31/8/2018, đại diện ban nhân dân Ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng cho biết về tình trạng mâu thuẫn hôn nhân giữa ông Q và bà H thì địa phương không nắm rõ, vì bà H và ông Q không có đơn trình báo.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng, về phía nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không tham gia các hoạt động tố tụng của Tòa án tại các phiên họp, cũng như cung cấp các tài liệu chứng cứ.

Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Quách Khánh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Mã Chấn Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó tòa án căn cứ vào điểm a, b khoản 2, Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà H và ông Q.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2015 bà H và ông Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Xét thấy việc chung sống của bà H và ông Q có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là vợ chồng. Tòa án đã triệu tập ông Q đến tham dự phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn, nhưng ông Q vẫn vắng mặt, nhận thấy hai bên đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể tiếp tục duy trì đời sống vợ chồng với nhau. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông Q.

[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Quách Khánh H xác định trong thời gian chung sống bà và ông Q không có con chung, tài sản chung, nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Quách Khánh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a,b khoản 2, Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235; Điều 271, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Quách Khánh H được ly hôn với ông Mã Chấn Q.

2/ Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Quách Khánh H xác định trong thời gian chung sống bà và ông Q không có con chung, tài sản chung, nợ chung. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Quách Khánh H có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003075 ngày 27/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy bà H đã nộp xong án phí. Ông Mã Chấn Q không phải chịu án phí.

4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5/ Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


90
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 23/10/2018 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:26/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về