Bản án 258/2018/DS-PT ngày 07/03/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 258/2018/DS-PT NGÀY 07/03/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 695/2017/DSPT ngày 04 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 308/2017/DS-ST ngày 27/09/2017 của Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2965/2017/QĐPT-DS ngày 12 tháng 12 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 276/2018/QĐ-PT ngày 10 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần M

Địa chỉ trụ sở: Tầng 1-7 Tòa nhà B, 72 Phố C1, Phường C1, Quận D, Thành phố Hà Nội.

Đa chỉ chi nhánh: 165 -167-169 đường D1, phường N1, Quận D1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều D

Địa chỉ: 14 đường E, khu phố A1, phường B1, thị xã B1, tỉnh Bình Dương.

Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1367/2017UQ- GĐK-TDTD ngày 18/4/2017).

- Bị đơn: Bà Phạm Thị Quế A, sinh năm: 1983

Địa chỉ: 39 đường V1, Tổ E1, khu phố L, phường K, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần M.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 4 năm 2017 và lời khai tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần M (gọi tắt Ngân hàng là bà Nguyễn Thị Kiều D trình bày: Ngày 26/11/2012, bà Phạm Thị Quế A có ký Hợp đồng tín dụng số 20121217-100125-0003 với Ngân hàng vay số tiền 19.950.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà Quế A có trách nhiệm thanh toán số tiền 43.385.000 đồng (gồm cả gốc và lãi, trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng (từ ngày 18/01/2013 đến 18/12/2015, 35 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.206.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.175.000 đồng.

Thực hiện hợp đồng, bà Quế A đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Ngân hàng được 05 lần với tổng số tiền đã trả là 6.930.000 đồng. Kể từ ngày 22/10/2013, bà Quế A không thanh toán thêm bất cứ khoản nào cho tới nay dù Ngân hàng đã nhắc nhở, yêu cầu thanh toán nhiều lần. Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần M yêu cầu bà Phạm Thị Quế A thanh lý hợp đồng, trả cho Ngân hàng một lần số tiền còn nợ tới hạn là 36.455.000 đồng ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật; trong đó tổng dư nợ gốc còn lại là 18.797.907 đồng, nợ lãi là 17.657.093 đồng.

Bị đơn là bà Phạm Thị Quế A dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 308/2017/DSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận G đã tuyên xử:

1. Buộc bà Phạm Thị Quế A có trách nhiệm phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần M số tiền 21.099.750 đồng (Hai mươi mốt triệu không trăm chín mươi chín ngàn bảy trăm năm mươi đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần M buộc bà Phạm Thị Quế A thanh toán số tiền 15.355.250 đồng.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/10/2017, Ngân hàng Thương mại Cổ phần M kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người kháng cáo – đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần M trình bày: Ngân hàng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện thủ tục, trình tự theo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn – bà Phạm Thị Quế A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt; Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy, tại Hợp đồng tín dụng số 20121217-100125-0003 ngày 26/11/2012 thì bà Phạm Thị Quế A có thỏa thuận với Ngân hàng vay số tiền 19.950.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân, bà Quế A đã nhận tiền vay và thực hiện trả nợ được 05 lần với tổng số tiền đã trả là 6.930.000 đồng, hiện còn nợ Ngân hàng số tiền gốc và lãi là 36.455.000 đồng. Cấp sơ thẩm nhận định Ngân hàng không cung cấp được tài liệu chứng minh lãi thỏa thuận này đã được niêm yết và báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định tại Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 và điều chỉnh lại lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 là chưa thỏa đáng bởi lẽ:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.” Khon 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận quy định: “Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả.” Xét việc vay nợ và thỏa thuận lãi suất giữa bà Quế A và Ngân hàng là tự nguyện, bà Quế A đã nhận và sử dụng tiền vay, đã thực hiện trả nợ theo hợp đồng đã ký kết; hiện bà Quế A còn nợ ngân hàng số tiền gốc và lãi là 36.455.000 đồng; do đó, bà Quế A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền còn lại theo quy định tại Điều 471, 474 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Bởi các lẽ trên, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, cần sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bà Quế A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho Ngân hàng. Do sửa bản án sơ thẩm nên Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Điều 471, 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần M.

Buộc Phạm Thị Quế A có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần M số tiền nợ gốc và lãi còn lại là 36.455.000 đồng (ba mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi lăm ngàn đồng .

Thc hiện tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày Ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phạm Thị Quế A chưa trả đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Quế A còn phải chịu thêm số tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

2/ Về án phí: Bà Phạm Thị Quế A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.822.750 đồng (một triệu tám trăm hai mươi hai ngàn bảy năm mươi đồng .

Ngân hàng Thương mại Cổ phần M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần M 911.375 đồng (chín trăm mười một ngàn ba trăm bảy mươi lăm đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0002708 ngày 03 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại Cổ phần M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0003512 ngày 27/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


30
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về